Cấp lý lịch tư pháp với người cư trú theo visa du lịch

Câu hỏi được gửi từ khách hàng: Cấp lý lịch tư pháp với người cư trú theo visa du lịch

Anh chị cho em hỏi với ạ. Em cần xin cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài, nhưng cái lí lịch tư pháp do cơ quan nước ngoài cấp đã quá 6 tháng nên không hợp lệ, hiện tại người này đang cư trú tại việt nam theo diện visa du lịch, không biết Sở Tư pháp nơi người này cư trú có được phép cấp lí lịch tư pháp không ạ. Em cảm ơn


Luật sư Tư vấn Luật Lý lịch tư pháp – Gọi 1900.0191

Dựa trên những thông tin được cung cấp và căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các cam kết, thỏa thuận quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam. Chúng tôi đưa ra trả lời như sau:

1./ Thời điểm pháp lý

Ngày 03 tháng 07 năm 2018

2./ Cơ sở Pháp Luật liên quan tới vấn đề Cấp phiếu Lý lịch tư pháp cho người nước ngoài

– Luật Lý lịch tư pháp năm 2009

– Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân

3./ Luật sư tư vấn

Với người nước ngoài đang ở Việt Nam, việc cấp lý lịch tư pháp cho người nước ngoài được pháp luật quy định như sau:

Căn cứ Khoản 1 Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp: “Công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam có quyền yêu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp của mình.”

Theo đó, người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp phiếu lý lịch tư pháp của mình. Tuy nhiên, với đối tượng người nước ngoài được cấp visa theo diện du lịch, thì việc người này xin giấy phép lao động hoặc thực hiện công việc lao động tại Việt Nam là không đúng với mục đích nhập cảnh vào Việt Nam. Bên cạnh đó, pháp luật về Lý lịch tư pháp không giải thích đối với đối tượng người nước ngoài cư trú như thế nào, cư trú trong bao lâu, phải đăng ký về cư trú thì là đối tượng được cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp phiếu lý lịch tư pháp.

Theo pháp luật thuế về thuế thu nhập cá nhân, căn cứ Điều 1 Thông tư 111/2013/TT-BTC, khái niệm cá nhân cư trú được giải thích như sau:

Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó ngày đến và ngày đi được tính là một (01) ngày. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân khi đến và khi rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú.

Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo hướng dẫn tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam.

b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:

b.1) Có nơi ở thường xuyên theo quy định của pháp luật về cư trú:

b.1.1) Đối với công dân Việt Nam: nơi ở thường xuyên là nơi cá nhân sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú.

b.1.2) Đối với người nước ngoài: nơi ở thường xuyên là nơi ở thường trú ghi trong Thẻ thường trú hoặc nơi ở tạm trú khi đăng ký cấp Thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp.

b.2) Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau:

b.2.1) Cá nhân chưa hoặc không có nơi ở thường xuyên theo hướng dẫn tại điểm b.1, khoản 1, Điều này nhưng có tổng số ngày thuê nhà để ở theo các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế cũng được xác định là cá nhân cư trú, kể cả trường hợp thuê nhà ở nhiều nơi.

b.2.2) Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ở nơi làm việc, ở trụ sở cơ quan,… không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụng lao động thuê cho người lao động.

Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại khoản này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào thì cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam.

Việc chứng minh là đối tượng cư trú của nước khác được căn cứ vào Giấy chứng nhận cư trú. Trường hợp cá nhân thuộc nước hoặc vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định thuế với Việt Nam không có quy định cấp Giấy chứng nhận cư trú thì cá nhân cung cấp bản chụp Hộ chiếu để chứng minh thời gian cư trú.”

Như vậy, trường hợp người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp phiếu lý lịch tư pháp cho mình, cụ thể là Sở Tư pháp nơi cư trú của người đó. Trường hợp, không được cấp phiếu lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp sẽ phải trả lời bằng văn bản cho người yêu cầu và nêu rõ lý do.

Với những tư vấn về câu hỏi Cấp lý lịch tư pháp với người cư trú theo visa du lịch, Công ty Luật LVN mong rằng đã có thể giải đáp được nhu cầu của quý khách, nếu quý khách vẫn còn chưa rõ hoặc có thông tin mới với trường hợp trên, quý khách có thể liên hệ Bộ phận Tư vấn pháp luật Miễn phí số: 1900.0191 để được Luật sư hỗ trợ ngay lập tức.

Bài liên quan:

1900.0191