Các vấn đề xoay quanh việc sử dụng facebook làm bằng chứng ngoại tình

Câu hỏi của khách hàng: Các vấn đề xoay quanh việc sử dụng facebook làm bằng chứng ngoại tình

Xin chào mọi người.
Các anh chị cho em hỏi, tin nhắn facebook của vợ với người tình có được xem là bằng chứng ngoại tình không ạ? Và nếu người chồng truy cập vào facebook của vợ đọc được tin nhắn đó, thì có vi phạm luật không ạ?


Luật sư Tư vấn Bộ luật Tố tụng dân sự – Gọi 1900.0191

Dựa trên thông tin được cung cấp và căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các cam kết, thỏa thuận quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam.

1./ Thời điểm tư vấn: 11/10/2018

2./ Cơ sở Pháp Luật điều chỉnh vấn đề Chứng cứ chứng minh hành vi ngoại tình

  • Hiến pháp năm 2013
  • Bộ luật dân sự năm 2015
  • Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

3./ Luật sư trả lời Các vấn đề xoay quanh việc sử dụng facebook làm bằng chứng ngoại tình

Khi giải quyết vụ án dân sự, hành chính hay hình sự, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay Tòa án dựa trên cơ sở pháp luật và những chứng cứ khách quan để đưa ra quyết định, bản sao cho đảm bảo sự công bằng và đúng pháp luật. Việc tin nhắn facebook có được coi là bằng chứng chứng minh việc ngoại tình hay không còn phụ thuộc vào nội dung của tin nhắn và trình tự thu thập tin nhắn này.

Về quyền riêng tư của mỗi cá nhân được pháp luật công nhận và được quy định trong các văn bản pháp luật cụ thể như sau:

Căn cứ Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sựĐiều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự thì tin nhắn facebook của vợ với người tình cũng được xác định là một nguồn chứng cứ để chứng minh việc ngoại tình. Tuy nhiên, để những tin nhắn này được xác định là bằng chứng ngoại tình thì chúng còn phải đáp ứng các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Như khi việc chứng minh này được thực hiện trong tố tụng dân sự thì những tin nhắn này chỉ được coi là chứng cứ khi đáp ứng các điều kiện tại Khoản 2 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể:

Điều 95. Xác định chứng cứ

2.Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó. …

Trong trường hợp dùng những tin nhắn đó để làm chứng cứ chứng minh việc ngoại tình trong tố tụng hình sự thì những tin nhắn này cần được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, do căn cứ Khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:

“… 2.Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.

Còn về việc người chồng truy cập vào facebook của vợ để đọc được những tin nhắn trên, hành vi này là hành vi xâm phạm tới bí mật của người vợ. Căn cứ Điều 21 Hiến pháp quy định:  

“1.Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.

Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.  

2.Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”.

Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình còn được quy định tại Điều 38 Bộ luật dân sự quy định như sau:

Điều 38. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

1.Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2.Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.

3.Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định. …”

Theo đó, dù với bất kỳ lý do gì, việc người chồng tự ý vào tài khoản facebook để đọc tin nhắn đó là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nếu người vợ có yêu cầu các chủ thể có thẩm quyền xử lý về hành vi trên.

Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác sẽ bị xử lý theo quy định tại Khoản 1 Điều 159 Bộ luật Hình sự như sau:

Điều 159. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác

1.Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

b)Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;

d)Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật.

đ)Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.”

Như vậy, trong trường hợp của bạn, tin nhắn facebook là nguồn của chứng cứ và có thể được xem là chứng cứ ngoại tình nếu đáp ứng được các điều kiện về thủ tục thu thập,… Việc tự ý vào facebook của người vợ xem tin nhắn là hành vi xâm phạm bí mật đời tư và có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Với những tư vấn trên, Công ty Luật LVN mong rằng đã có thể giải đáp được nhu cầu của quý khách, nếu quý khách vẫn còn chưa rõ hoặc có thông tin mới với trường hợp này, quý khách có thể liên hệ Bộ phận Tư vấn pháp luật Miễn phí số: 1900.0191 để được Luật sư hỗ trợ ngay lập tức.

1900.0191