Rút đơn tội hiếp dâm thì còn phải chấp hành án không

Câu hỏi được gửi từ khách hàng: Rút đơn tội hiếp dâm thì còn phải chấp hành án không?

Cho em hỏi là nếu khi gia đình người bị hại sau khi thỏa thuận bồi thường rồi thì quyết định rút đơn tố cáo tội hiếp dâm thì anh kia có còn phải chấp hành án nữa không ạ ? Do 2 gia đình đã thỏa thuận được với nhau rồi và cũng không muốn nhờ pháp luật nữa làm gì cho căng thẳng cả.


Luật sư Tư vấn Luật Hình sự – Gọi 1900.0191

Dựa trên những thông tin được cung cấp và căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các cam kết, thỏa thuận quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam. Chúng tôi đưa ra trả lời như sau:

1./ Thời điểm pháp lý

Ngày 19 tháng 05 năm 2018

2./ Cơ sở Pháp Luật liên quan tới vấn đề rút đơn khởi tố tội phạm hiếp dâm

  • Bộ luật Hình sự 2015 sử đổi bổ sung 2017;
  • Bộ luật tố tụng hình sự 2015

3./ Luật sư tư vấn

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, người yêu cầu khởi tố có quyền rút đơn bất cứ khi nào khi vụ án chưa được giải quyết xong. Căn cứ trên quy định pháp luật, Tòa án, cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định đình chỉ vụ án đối với những trường hợp cụ thể như sau:

Trước hết, Hành vi hiếp dâm theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định tại các Điều 141, 142 tùy thuộc vào đột tuổi của người bị hại khi bị xâm phạm.

Căn cứ Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại:

“Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1.Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2.Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3.Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

Theo đó, Trường hợp người có hành vi phạm tội bị khởi tố về tội phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, thì khi người bị hại rút đơn tố giác yêu cầu khởi tố vụ án, thì vụ án sẽ bị đình chỉ khi Tòa án chưa ra bản án có hiệu lực pháp luật. Với trường hợp người có hành vi phạm tội bị khởi tố, truy tố theo điều khoản khác của Điều 141 hoặc Điều 142 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, thì với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nên dù người bị hại hoặc đại diện của người bị hại có rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án, vụ án sẽ không bị đình chỉ giải quyết. Tuy nhiên, khi không đình chỉ vụ án nhưng việc người phạm tội đã bồi thường khắc phục hậu quả và có đơn rút yêu cầu của người bị hại thì khi giải quyết vụ án, Tòa án căn cứ vào đó để giảm nhẹ trách nhiệm cho người phạm tội.

Vậy, Khi chưa có bản án có hiệu lực của Tòa án, người bị hại hoặc đại diện của người bị hại có quyền rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Với hành vi hiếp dâm, tùy thuộc vào độ tuổi người bị hại và mức độ nguy hiểm của hành vi, khi người bị hại rút đơn yêu cầu, nếu hành vi hiếp dâm của người phạm tội bị khởi tố theo quy định tại Khoản 1 Điều 141 nêu trên, thì người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chấp hành hình phạt theo quy định pháp luật hình sự. Trường hợp hành vi có mức độ nguy hiểm bị khởi tố hoặc truy tố về tội phạm khác hoặc khoản khác của tội nêu trên, thì việc rút đơn chỉ là tình tiết được coi như tình tiết nhằm giảm nhẹ trách nhiệm cho người phạm tội. Cho nên, trường hợp này, khi các bên đã có thỏa thuận và gia đình anh/chị đồng ý rút đơn thì vẫn được quyền rút đơn theo quy định pháp luật.

Với những tư vấn về câu hỏi Rút đơn tội hiếp dâm thì còn phải chấp hành án không, Công ty Luật LVN mong rằng đã có thể giải đáp được nhu cầu của quý khách, nếu quý khách vẫn còn chưa rõ hoặc có thông tin mới với trường hợp trên, quý khách có thể liên hệ Bộ phận Tư vấn pháp luật Miễn phí số: 1900.0191 để được Luật sư hỗ trợ ngay lập tức.

Bài liên quan:

1900.0191