Dịch vụ ly hôn tại Nam Từ Liêm – Tư vấn Tranh chấp về tài sản khi ly hôn

Dịch vụ ly hôn tại Nam Từ Liêm – Tư vấn Tranh chấp về tài sản khi ly hôn

Anh A kết hôn với chị B năm 2002. Sau khi về làm dâu, vợ chồng anh chị ở cùng mẹ chồng là bà C. Sau một thời gian chung sống, anh A muốn ly hôn với chị B. Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có xây dựng được một ngôi nhà 2 tầng diện tích 180 m2. Chị B xác định ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng, còn anh A cho rằng ngôi nhà do mẹ anh A xây không phải do vợ chồng anh xây. Đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình nhà bà C. Xin hỏi, trường hợp này mảnh đất là tài sản chung của vợ chồng anh A và chị B không?

Gửi bởi: Lê Thị Huệ

Trả lời có tính chất tham khảo

Điều 33 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Khoản 29 Điều 3 của Luật Đất đai 2013 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”.

Điều 109 của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.

2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý”.

Căn cứ quy định nêu trên và các thông tin mà bạn cung cấp thì mảnh đất được cấp cho hộ gia đình bà C nên thuộc quyền sở hữu chung của tất cả mọi thành viên trong hộ gia đình mà không phải là tài sản riêng của vợ chồng anh A và chị B. Việc xác định những người có quyền đối với quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình được căn cứ vào sổ hộ khẩu tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.

Các văn bản liên quan:

Bộ luật 33/2005/QH11 Dân sự

Luật 52/2014/QH13 Hôn nhân và gia đình

Luật 45/2013/QH13 Đất đai

Trả lời bởi: Nguyễn Thị Phương Liên – Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật

1900.0191