Thực trạng pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá và giải pháp hoàn thiện

Đề tài: Thực trạng pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá và giải pháp hoàn thiện.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập và tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế. Hiện nay, Việt Nam đã từng bước hội nhập quốc tế thông qua việc thiết lập quan hệ thương mại – đầu tư với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, tham gia vào nhiều tổ chức hợp tác kinh tế, thương mại của thế giới và khu vực, đã ký kết nhiều hiệp định tự do thương mại song phương, đa phương (FTA Việt Nam – Hàn Quốc, AFTA, FTA Việt Nam – EU, TPP…) và đang đàm phán một số hiệp định khác. Từ khi gia nhập WTO Việt Nam nhận được nhiều ưu đãi từ các nước thành viên trong việc xuất khẩu hàng hóa nhưng đồng thời đó cũng là khó khăn vì phải cạnh tranh với hàng hoá nước ngoài được nhập khẩu vào Việt Nam. Thực tế tính đến năm 2020, Việt Nam đã có hơn 98 vụ việc điều tra chống bán phá giá do nước ngoài khởi xướng, so với các vụ việc Việt Nam tự khởi xướng thì lớn hơn rất nhiều. Từ đó có thể thấy doanh nghiệp Việt Nam đối với vấn đề pháp luật chống bán phá giá chưa có sự hiểu biết sâu rộng. Vậy thực trạng áp dụng pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam hiện nay đang diễn ra như thế nào?

Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này trên cơ sở đó có thể đóng góp một số ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện pháp chống bán phá giá ở Việt Nam, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Thực trạng pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá và giải pháp hoàn thiện.”

Đề án bao gồm Lời mở đầu, nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung luận văn được bố cục thành ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về chống bán phá giá

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

1.1. Khái quát về chống bán phá giá

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm bán phá giá và chống bán phá giá

1.1.1.1. Bán phá giá                          

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bán phá giá, những khái niệm này tồn tại theo những góc nhìn khác nhau của vấn đề này. Trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), bán phá giá được hiểu là việc sản phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh thương mại trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm, phải bị xử phạt nếu việc đó gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho một ngành sản xuất trên lãnh thổ của một bên ký kết hay thực sự làm chậm chễ sự thành lập một ngành sản xuất trong nước. Mặt khác, trong một số trang thông tin điện tử, bán phá giá được hiểu là “hiện tượng xảy ra khi một loại hàng hóa được xuất khẩu (bán sang thị trường nước khác) với giá thấp hơn giá bán của mặt hàng đó tại thị trường nước xuất khẩu.”[1].Tuy những khái niệm có sự khác nhau nhất định về mặt từ ngữ nhưng nội hàm thì giống nhau, có thể hiểu một cách đơn giản và ngắn gọn như sau:

 “Bán phá giá là hiện tượng hàng hóa được bán ra nước ngoài thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm[2]

Trong khái niệm này chứa hai điều kiện để xác định bán phá giá. Đầu tiên là phải có hai thị trường riêng biệt, hai thị trường này phải bị ngăn cách bởi những đường biên giới quốc gia hoặc vùng lãnh thổ. Thứ hai, giá bán ra nước ngoài hay còn gọi là giá xuất khẩu và giá trị thông thường. Những yếu tố này sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu xác định và tính toán theo quy định của nước đó.

Theo quy định tại Điều VI của GATT và cụ thể hóa tại “Hiệp định chống bán phá giá”, một hàng hóa được coi là bán phá giá khi trong điều kiện thương mại bình thường hàng hóa đó được đưa vào lưu thông thương mại trên thị trường một nước khác với giá thấp hơn mức thông thường bán tại thị trường trong nước, nếu giá xuất khẩu hàng hóa đó từ nước này sang nước khác thấp hơn một trong số các mức sau:

(1) Mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường

(2) Giá so sánh cao nhất của sản phẩm tương tự dành cho xuất khẩu đến bất kỳ một nước thứ 3 nào trong điều kiện thương mại thông thường.

(3) Giá thành sản xuất ra sản phẩm tại nước xuất xứ có cộng thêm một mức hợp lý chi phí bán hàng và lợi nhuận

1.1.1.2. Chống bán phá giá

Do tác động của bán phá giá và đặc biệt là tác động tới ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu mà tại các nước này luôn có xu hướng làm hạn chế tác động được cho là tiêu cực đó. Có thể có nhiều biện pháp hạn chế bán phá giá nhưng thông thường có những biện pháp sau. Thứ nhất, bản thân doanh nghiệp nước nhập khẩu mà bị ảnh hưởng của bán phá giá có thể tìm hiểu nguyên nhân mà sản phẩm của mình kém cạnh hơn so với sản phẩm nhập khẩu, từ đó tiến hành cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng. Thứ hai, chính phủ nước nhập khẩu trợ giúp ngành sản xuất trong nước bằng các khoản trợ cấp tài chính…Thứ ba, thực hiện chống bán phá giá. Đây là biện pháp phổ biến và được ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới.

Chống bán phá giá việc các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp phù hợp, tác động trực tiếp lên sản phẩm nhập khẩu bán phá giá để loại bỏ những thiệt hại mà sản phẩm nhập khẩu bán phá giá đó gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự của nước mình[3]

Chống bán phá giá là cách thức do cơ quan có thẩm quyền đặt ra nhằm chống lại các hành vi bán phá giá. Khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá lên sản phẩm nào đó phải dưa trên các căn cứ khoa học pháp lý rõ ràng, phải phù hợp với các quy định và thông lệ quốc tế, vừa mang tính răn đe vừa tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ kinh tế lành mạnh đồng thời không làm mất đi tính lưu thông của sản phẩm đó trên thị trường.

Biện pháp này mang tính chất hành chính, không đòi hỏi nguồn lực tài chính trực tiếp từ các doanh nghiệp nội địa cũng như những trợ cấp ngân sách từ chính phủ nước nhập khẩu. Thêm vào đó, nước nhập khẩu có thể thông qua việc đánh thuế chống bán phá giá để thu được những khoản tiền nhất định, từ đó điều tiết ngược trở lại cho các doanh nghiệp sản xuất nội địa bị ảnh hưởng tiêu cực do sản phẩm nhập khẩu.

Theo Hiệp định chống bán phá giá, biện pháp chống bán phá giá phải được chấm dứt  sau 05 năm kể từ ngày áp dụng, trừ khi cơ quan quản lý nhà nước xác định rằng nếu biện pháp chống bán phá giá bị chấm dứt thì việc bán phá giá và tổn hại sẽ có thể  lại diễn ra.

1.1.2. Các biện pháp chống bán phá giá

1.1.2.1. Thuế chống phá giá và thuế chống bán phá giá tạm thời

Thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu thông thường, do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu ban hành, đánh vào sản phẩm nước ngoài bị bán phá giá vào nước nhập khẩu.”[4]

Điều VI GATT quy định rằng bán phá giá “phải bị xử phạt nếu việc đó gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho một ngành sản xuất trên lãnh thổ của một bên ký kết hay thực sự làm chậm chễ sự thành lập một ngành sản xuất trong nước”. Nhằm mục đích triệt tiêu tác dụng hay ngăn ngừa việc bán phá giá, một bên ký kết có thể đánh vào bất cứ một sản phẩm được bán phá giá nào một khoản thuế chống bán phá giá nhưng không lớn hơn biên độ bán phá giá của sản phẩm đó. Trong đó, biên độ bán phá giá được coi là sự chênh lệch về giá giữa giá xuất khẩu đang xem xét với giá thông thường của sản phẩm tại thị trường nội địa, hoặc giá xuất khẩu sang nước thứ ba, hoặc giá cấu thành của sản phẩm.

Xét về bản chất, thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung, đánh vào hàng nhập khẩu nhằm triệt tiêu tác dụng hay ngăn ngừa việc bán phá giá đối với sản phẩm đó (điều VI.2 của GATT). Mục đích cuối cùng của thuế chống bán phá giá là tạo dựng lại thế cạnh tranh cân bằng giữa sản phẩm trong nước và sản phẩm nhập khẩu, bảo vệ thị trường nội địa chống lại các hành vi cạnh tranh quốc tế không lành mạnh. Cũng chính vì mục đích này mà việc áp dụng mức thuế chống bán phá giá được yêu cầu là không vượt quá biên độ bán phá giá, nhằm tránh tình trạng lạm dụng thuế chống bán phá giá làm công cụ bảo hộ bất hợp pháp thị trường nội địa.

Biện pháp áp dụng thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng với hàng hóa nhập khẩu khi kết quả điều tra xác định tồn tại các điều kiện sau:

(1) Hàng hóa cụ thể nào đó được đưa vào kinh doanh trên thị trường nước nhập khẩu với giá thấp hơn giá trị thông thường của nó

(2) Ngành sản xuất trong nước [5] ở nước nhập khẩu chịu thiệt hại vật chất

(3) Tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá với thiệt hại vật chất đó.

Thuế chống bán phá giá tạm thời là biện pháp chống bán phá giá dưới hình thức thuế áp dụng với hàng hóa nhập khẩu đang trong diện bị điều tra trước khi có kết luận cuối cùng. Biện pháp này thường được áp dụng khi có kết luận sơ bộ rằng việc bán phá giá gây thiệt hại.

Theo Hiệp định chống bán phá giá ( Điều VII), biện pháp chống bán phá giá tạm thời chỉ được phép áp dụng nếu:

(1) Việc điều tra đã được bắt đầu theo đúng qui định của Hiệp định này, việc này đã được thông báo cho công chúng và các bên hữu quan đã được tạo đầy đủ cơ hội để đệ trình thông tin và đưa ra nhận xét;

(2) Kết luận sơ bộ đã xác nhận rằng có việc bán phá giá và có dẫn đến gây tổn hại cho ngành sản xuất trong nước;

(3) Các cơ quan có thẩm quyền hữu quan kết luận rằng cần áp dụng các biện pháp này để ngăn chặn tổn hại đang xảy ra trong quá trình điều tra

Biện pháp tạm thời này không được phép áp dụng sớm hơn 60 ngày kể từ ngày bắt đầu điều tra và việc áp dụng biện pháp này sẽ được hạn chế trong 1 khoảng thời gian càng ngắn càng tốt và không quá 4 tháng nhưng trong trường hợp có yêu cầu của các nhà xuất khẩu đại diện cho một tỉ lệ đáng kể khối lượng thương mại liên quan, cơ quan có thẩm quyền có thể quyết định kéo dài thời gian áp dụng không quá 6 tháng hoặc trong quá trình điều tra, nếu như cơ quan có thẩm quyền kiểm tra xem liệu một mức thuế thấp hơn biên độ phá giá có thể loại bỏ tổn hại phát sinh hay không, khoảng thời gian trên có thể tương ứng là 6 và 9 tháng

1.1.2.2. Cam kết về giá

Theo Điều VIII Hiệp định chống bán phá giá, các thủ tục có thể được đình chỉ hoặc chấm dứt mà không áp dụng bất cứ biện pháp tạm thời hay thuế chống phá giá nào nếu như các nhà xuất khẩu có cam kết ở mức thoả đáng sẽ điều chỉnh giá của mình hoặc đình chỉ hành động bán phá giá vào khu vực đang điều tra để các cơ quan có thẩm quyền thấy được rằng tổn hại do việc bán phá giá gây ra đã được loại bỏ. Khoản giá tăng thêm khi cam kết về giá như vậy không được cao hơn mức cần thiết để có thể loại bỏ biên độ bán phá giá. Khuyến khích việc chỉ yêu cầu mức tăng giá thấp hơn biên độ bán phá giá nếu như mức đó đủ để loại bỏ tổn hại đối với sản xuất trong nước.

Như vậy có thể hiểu rằng cam kết về giá là sự cam kết về giá của bất cứ doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa nào đang bị điều tra về bán phá giá đối với nước nhập khẩu đại diện bởi cơ quan có thẩm quyền về việc điều chỉnh giá hàng hóa xuất khẩu để loại bỏ tổn hại có thể gây ra đối với ngành sản xuất trong nước.

Cơ quan điều tra có thể sẽ không chấp nhận cho các nhà sản xuất, xuất khẩu cam kết giá nếu thấy việc cam kết không khả thi, chẳng hạn số lượng nhà xuất khẩu quá lớn.

Cơ quan điều tra có thể đề nghị nhà xuất khẩu cam kết giá nhưng không bắt buộc phải cam kết. Các cơ quan hữu quan của nước nhập khẩu có thể yêu cầu bất kỳ nhà xuất khẩu nào chấp nhận cam kết giá cung cấp thông tin định kỳ về việc thực hiện cam kết giá.Trường hợp nhà xuất khẩu vi phạm cam kết giá, cơ quan điều tra có thể lập tức áp dụng biện pháp tạm thời trên cơ sở thông tin mà họ có

1.1.3. Tác động của chống bán phá giá

Xét về mặt tích cực, việc sử dụng các chính sách chống bán phá giá ở các nước đang phát triển giúp bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước chống lại “mức giá thôn tính” và giá độc quyền bằng cách ngăn chặn lợi thế giá thành thấp của các mặt hàng nhập khẩu đến từ các công ty nước ngoài. Mặc dù trong ngắn hạn, bán phá giá mang lại lợi ích cho người tiêu dùng trong nước khi gia tăng khả năng tiếp cận với hàng hóa chất lượng mà lại rẻ hơn. nhưng những hậu quả kinh tế trong dài hạn là rất đáng kể. Nó tiềm ẩn khả năng dẫn đến sự sụp đổ của các doanh nghiệp nội địa và cuối cùng chính những người tiêu dùng trong nước sẽ phải chịu mức giá độc quyền trong dài hạn sau khi các doanh nghiệp trong nước bị loại bỏ hoàn toàn[6]

Thông thường các doanh nghiệp ở nước xuất khẩu có ưu thế hơn về tiến bộ công nghệ, từ đó tạo ra sản phẩm với chi phí thấp hơn. Nhằm tránh cho các doanh nghiệp này bán sản phẩm với giá thấp hơn mức thông thường, gây áp lức cho ngành sản xuất nội địa, cần áp dụng biện pháp chống bán phá giá, cụ thể là buộc các công ty nước ngoài thay đổi mức giá của họ về mức tương đương với giá trong nước, đảm bảo biên độ bán phá giá bằng không và duy trì giá thông thường cho các sản phẩm tương tự trên thị trường.

Như vậy, Chống bán phá giá tạo điều kiện duy trì cạnh tranh công bằng trên thị trường thương mại tư do và bảo vệ ngành sản xuất nội địa khỏi khả năng bị tổn thất vật chất do những sản phẩm nhập khẩu bán phá giá gây ra. Áp dụng các biện pháp chống bán phá giá sẽ làm giá hàng hóa nhập khẩu tăng lên, giảm sức ép cho hàng hóa nội địa.

Xét về mặt tiêu cực, việc thực hiện các biện pháp chống bán phá giá có thể làm phát sinh mâu thuẫn giữa các thành phần tham gia thị trường, giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.

Bên cạnh việc mang về những khoản thuế bổ sung, tăng thêm giá trị thặng dư cho ngành sản xuất trong nước,.. thì chống bán phá giá cũng làm giảm thặng dư của người tiêu dùng, thu hẹp phúc lợi. Người tiêu dùng nội địa có thể mất đi cơ hội tiếp cận với các mặt hàng tương tự có giá thấp hơn và chất lượng từ nền kinh tế bán phá giá.

1.1.4. Vai trò và ý nghĩa của chống bán phá giá

Về mặt kinh tế, chống bán phá giá đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra thị trường thương mại công bằng, hạn chế nhập khẩu, từ đó bảo vệ các doanh nghiệp khỏi cạnh tranh không lành mạnh.

Đối với các nước đang phát triển, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn khá chậm dẫn đến ngành sản xuất trong nước còn non kém khiến sức cạnh tranh trên các thị trường nội địa và xuất khẩu không cao. Vì vậy các doanh nghiệp này cần được bảo hộ. Các biện pháp được sử dụng để bảo hộ phải là những biện pháp được các hiệp định thương mại cho phép. Trên thực tế, để phù hợp với cam kết WTO và các hiệp định FTA thì hiện nay, để bảo hộ chỉ còn các công cụ: thuế quan, phòng vệ thương mại, hàng rào kỹ thuật (TPT và SPS). Trong đó, thuế quan liên tục được cắt giảm, việc hạn chế bằng thuế nhập khẩu chỉ có giảm chứ không thể tăng; hàng rào kỹ thuật là cần thiết song thực tế sẽ chỉ hiệu quả đối với việc hạn chế nhập khẩu từ các nước đang phát triển khác vì hàng hóa từ các nước phát triển thường có tiêu chuẩn cao hơn các nước đang phát triển bao gồm Việt Nam.[7] Chính vì vậy, phòng vệ thương mại, cụ thể là chống bán phá giá có vai trò đặc biệt quan trọng.

Chống bán phá giá không chỉ để bảo vệ sản xuất và việc làm trong nước đồng thời giảm mức độ phụ thuộc vào hàng hoá nhập khẩu (đặc biệt đối với các hàng hóa thiết yếu của nền kinh tế như sắt thép, phân bón, v.v), góp phần thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2. Phân biệt biện pháp chống bán phá giá so với các biện pháp khắc phục thương mại khác

1.2.1. Biện pháp chống bán phá giá và biện pháp tự vệ thương mại

Theo Điều XIX GATT, biện pháp tự vệ thương mại là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số hàng hóa khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa.

Biện pháp chống bán phá giá và tự vệ thương mại về cơ bản đều là những biện pháp khắc phục thương mại nhưng chúng có nhiều điểm khác nhau sau:

Về mục đích áp dụng, trong khi chống bán phá giá được áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng bình đẳng về lợi ích thương mại bị phá vỡ do các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trái với quy định pháp luật trong nước và quốc tế, thì tự vệ thương mại được áp dụng trong các tình huống khẩn cấp nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước trước những biến động tiêu cực không mong đợi do tình hình diễn biến nhập khẩu gây ra mà không cần phải chứng minh bất kỳ hành vi cạnh tranh không bình đẳng hay vi phạm GATT.[8]

Về bản chất, so với biện pháp chống bán phá giá thì tự vệ thương mại mang tính chất bảo hộ hơn, đi ngược lại với nguyên tắc tự do hóa thương mại trong WTO nên được quy định rất chặt chẽ về thủ tục áp dụng

Về thời điểm áp dụng, chống bán phá giá được áp dụng khi khi tuân thủ các thủ tục điều tra được bắt đầu và tiến hành theo đúng quy định của Hiệp định chống bán phá giá. Còn tự vệ thương mại được áp dụng khi và chỉ khi cơ quan có thẩm quyền của thành viên nhập khẩu WTO kết luận thành viên đó đáp ứng và tuân thủ các điều kiện được quy định tại Điều XIX GATT và Điều 2 hiệp định về các biện pháp tự vệ.

Về điều kiện áp dụng, biện pháp tự vệ được áp dụng khi có điều kiện sau: có sự gia tăng đáng kể của hàng hóa nhập khẩu; sự gia tăng này mang tính đột biến do những thay đổi về chế độ thương mại;sự gia tăng này gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất nội địa tương ứng; và có mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu gia tăng và thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. Còn chống bán phá giá được áp dụng như phần 1.1.2 đã đề cập ở trên. Như vậy, khác biệt cơ bản của hai biện pháp này là biện pháp tự vệ thì yếu tố quan trọng là số lượng hàng hóa nhập khẩu trong khi chống bán phá giá thì quan trọng về giá cả của hàng hóa .

1.3. Khái quát nội dung pháp luật quốc gia về chống bán phá giá

1.3.1. Cam kết về bán phá giá và chống bán phá giá trong các hiệp định thương mại

Việt Nam đã trở thành thành viên đầy đủ của WTO vào ngày 11/1/2007. Từ đó, Các hiệp định thuộc hệ thống WTO sẽ chi phối, điều chỉnh thương mại hàng hoá của Việt Nam và hiệp định cơ bản trong lĩnh vực thương mại hàng hoá là Hiệp định chung về  thuế quan và thương mại năm 1994 mà thường được biết đến dưới tên gọi là GATT 1994. Một trong số những vấn đề quan trọng của GATT là chống bán phá giá ( Điều VI) và được cụ thể tại Hiệp định chống bán phá giá (ADP).

Việt Nam đã cam kết áp dụng đầy đủ các quy định của Hiệp định chống bán phá giá kể từ ngày gia nhập WTO mà không cần có bất kỳ thời gian chuyển đổi nào. Việt Nam đảm bảo rằng bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào của Việt Nam về việc áp dụng các biện  pháp  chống  bán phá giá có hiệu lực vào thời điểm Việt Nam gia nhập WTO  đều phù hợp với các quy định của WTO về chống bán phá giá. Hơn thế nữa, Việt Nam sẽ không  áp dụng các biện pháp chống bán phá giá cho đến khi các văn bản quy phạm pháp luật của mình chưa phù hợp hoàn toàn với các điều khoản của Hiệp định chống bán phá giá.[9]

Hiệp định chống bán phá giá quy định về các nhóm vấn đề cụ thể sau: thứ nhất là quy định về nội dung: bao gồm các điều khoản chi tiết về cách thức, tiêu chí xác định việc bán phá giá, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại; thứ hai là quy định về thủ tục: bao gồm các điều khoản liên quan đến thủ tục điều tra áp đặt thuế chống bán phá giá như thời hạn điều tra, nội dung đơn kiện, thông báo, quyền tố tụng của các bên liên quan, trình tự áp dụng các biện pháp tạm thời, quyền khiếu kiện,..; thứ ba là quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên liên quan đến thuế chống phá giá: qui định tại Điều 17 ADP, bao gồm các qui tắc áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên WTO liên quan đến biện pháp áp đặt thuế chống bán phá giá của một quốc gia thành viên; thứ tư là quy định về thẩm quyền của Uỷ ban về Thực tiễn Chống bán phá giá (Committee on Anti-dumping Practices): bao gồm các qui định về thành viên, chức năng và hoạt động của Uỷ ban trong quá trình điều hành về các biện pháp chống bán phá giá thực hiện tại các quốc gia thành viên.

Ngoài tham gia hiệp định thương mại liên quan trực tiếp đến vấn đề bán phá giá như trên, Việt Nam còn tham gia một số hiệp định khác gián tiếp ảnh hưởng đến bán phá giá và chống bán phá giá như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam (EVFTA)

Việt Nam đã chính thức gia nhập CPTPP vào ngày 12/11/2018 và hiệp định chính thức có hiệu lực vào ngày 14/1/2019. Hiệp định CPTPP gồm 07 Điều và 01 Phụ lục quy định về mối quan hệ với Hiệp định TPP đã được 12 nước gồm Ốt-xtrây-lia, Bru-nây Đa-rút-xa-lam, Ca-na-đa, Chi-lê, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam ký ngày 06 tháng 2 năm 2016 tại Niu Di-lân; cũng như xử lý các vấn đề khác liên quan đến tính hiệu lực, rút khỏi hay gia nhập Hiệp định CPTPP. Theo hiệp định này, “các nước CPTPP cam kết xóa bỏ hoàn toàn từ 97% đến 100% số dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam, tùy theo cam kết của từng nước. Gần như toàn bộ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào các nước CPTPP khác sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu hoàn toàn ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc theo lộ trình”[10]. Ngược lại, “Việt Nam cam kết một biểu thuế chung cho tất cả các nước CPTPP. Theo đó, Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 66% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và 86,5% số dòng thuế sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Các mặt hàng còn lại có lộ trình giảm thuế chủ yếu từ 5 đến 10 năm”[11]

Ngày 30/6/2019, Việt Nam và EU chính thức ký kết EVFTA. Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý-thể chế.

Thực hiện cam kết theo Hiệp định này, “Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%. Như vậy, có thể nói gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho ta trong các hiệp định FTA đã được ký kết. Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EU liên tục là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của ta hiện nay.

Ngược lại, đối với hàng xuất khẩu của EU, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế (chiếm 64,5% kim ngạch nhập khẩu). Tiếp đó, sau 7 năm, 91,8% số dòng thuế tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu từ EU được Việt Nam xóa bỏ thuế nhập khẩu. Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế (chiếm 99,8% kim ngạch nhập khẩu). Đối với khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU, ta áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu dài hơn 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan theo cam kết WTO.”[12]

1.3.2. Nội dung cơ bản của pháp luật quốc gia về chống bán phá giá

Pháp luật về chống bán phá giá đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu qua biên giới của Việt Nam chính thức trở một một lĩnh vực pháp luật mới kể từ khi Pháp lệnh chống bán phá giá được ban hành ngày 29/4/2004 và có hiệu lực thi hành ngày 01/10/2004. Pháp lệnh quy định về thủ tục, nội dung điều tra và việc áp dụng các biện pháp đối với hàng hóa bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam. Tại Điều 6, Pháp lệnh quy định biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng đối với hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam khi có hai điều kiện sau đây: thứ nhất, hàng hoá bị bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá phải được xác định cụ thể; thứ hai, việc bán phá giá hàng hoá là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.

Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã có các quy định cụ thể hơn về vấn đề chống bán phá giá. Nội dung cơ bản được quy định trong Luật quản lý ngoại thương 2017, quy định biện pháp chống bán phá giá “đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (sau đây gọi là biện pháp chống bán phá giá) là biện pháp được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được xác định bị bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam gây ra thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước.”[13]. Các biện pháp chống bán phá giá bao gồm: áp dụng thuế chống bán phá giá; cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá. Điều 78 Luật này quy định các biện pháp chống bán phá giá được áp dụng khi có đủ điều kiện: hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bị bán phá giá với biên độ bán phá giá được xác định cụ thể; ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước; và tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa việc nhập khẩu hàng hóa bị bán phá giá với thiệt hại của ngành sản xuất trong nước. Ngoài ra, Luật này còn quy định về căn cứ tiến hành điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá, áp dụng biện pháp chống bán phá giá và rà soát việc áp dụng.

Đối với thuế chống bán phá giá-biện pháp chống bán phá giá được sử dụng rộng rãi trên nhiều nước thì ở Việt Nam thuế này được quy định cụ thể trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016.

Đối với quy trình thủ tục áp dụng các biện pháp chống bán phá giá thì được quy định tại Nghị định 10/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương biện pháp phòng vệ thương mại. Nghị định này quy định về hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá, tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hồ sơ, quyết định điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá, các nội dung của quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá, các nội dung của cam kết…

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM

2.1. Các quy định của pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá

2.1.1. Lịch sử hình thành pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá

Khái niệm về bán phá giá được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam lần đầu tiên ở  Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 04/1998/QH10 được Quốc hội Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 20-5-1998. Điều này cho phép cơ quan nhà nước áp dụng thuế bổ sung đối với hàng nhập khẩu được trợ cấp và bán phá giá vào Việt Nam. Tuy nhiên, Luật này chưa quy định hình thức thuế cụ thể áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu bán phá giá.

Ba năm sau đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 04/4/2001 về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2001 – 2005, trong đó quy định việc xây dựng nguyên tắc áp dụng thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá trong năm 2001. Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó, pháp luật Việt Nam chưa hình thành được một cơ chế pháp lý cụ thể và ổn định để phát hiện và xử lý các hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam. Với lý do đó, theo đề nghị của Bộ Tư pháp, ngày 27-9-2001, Bộ Thương mại Việt Nam (nay là Bộ Công Thương) đã có tờ trình lên Chính phủ đề nghị đưa vào kế hoạch xây dựng pháp lệnh về chống bán phá giá. Sau ba năm soạn thảo, ngày 29/4/2004, Pháp lệnh chống bán phá giá được ban hành, đánh dấu sự ra đời của một lĩnh vực pháp luật mới – pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam.

Hơn một năm sau khi Pháp lệnh chống bán phá giá được ban hành, ngày 11-7-2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam. Cũng trong năm đó, Quốc hội Việt Nam khóa XI cũng ban hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005, trong đó quy định hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam ngoài thuế nhập khẩu và các loại thuế khác có thể bị đánh thuế chống bán phá giá theo quy định của pháp luật Việt Nam (Điều 1). Cho đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp các hoạt động chống bán phá giá tại Việt Nam bao gồm: Luật quản lý ngoại thương 2017, Nghị định 10/2018/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016.

Luật Quản lý ngoại thương 2017 đã được Quốc hội thông qua với 8 Chương 113 Điều, quy định về biện pháp quản lý ngoại thương, phát triển hoạt động ngoại thương, giải quyết tranh chấp về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương. Trong đó, Mục 2 Chương IV quy định các vấn đề về chống bán phá giá.

Nghị định 10/2018/NĐ-CP được chính phủ thông qua với 7 chương và 96 Điều, “quy định về căn cứ tiến hành, trình tự, thủ tục, thời hạn, nội dung, căn cứ chấm dứt điều tra vụ việc phòng vệ thương mại; cách xác định thiệt hại của ngành sản xuất trong nước; chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại; áp dụng, rà soát biện pháp phòng vệ thương mại; trách nhiệm phối hợp của các cơ quan liên quan trong quá trình điều tra; miễn trừ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại; xử lý biện pháp phòng vệ thương mại áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.”[14]

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 được Quốc hội thông qua với 5 Chương, 22 Điều, quy định về “đối tượng chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, thời Điểm tính thuế, biểu thuế, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu”[15]. Trong đó Điều 12 của Luật này quy định cụ thể về thuế chống bán phá giá.

2.1.2. Một số chế định cơ bản trong pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá

2.1.2.1. Điều kiện áp dụng

Với tư cách là một thành viên của WTO, pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn từ các hiệp định của WTO, cụ thể ở đây là Hiệp định chống bán phá giá. Vì vậy, trên cơ sở của Hiệp định này, điều kiện áp dụng chống bán phá giá được quy định tại Điều 78 Luật quản lý ngoại thương 2017 như sau:

“1. Biện pháp chống bán phá giá được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bị bán phá giá với biên độ bán phá giá được xác định cụ thể, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước;

c) Tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa việc nhập khẩu hàng hóa bị bán phá giá quy định tại điểm a khoản này với thiệt hại của ngành sản xuất trong nước quy định tại điểm b khoản này.

2. Không áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu có biên độ bán phá giá không vượt quá 2% giá xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam.

3. Trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ một nước có khối lượng hoặc số lượng không vượt quá 3% tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự nhập khẩu vào Việt Nam và tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa có xuất xứ từ các nước đáp ứng điều kiện trên không vượt quá 7% tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự nhập khẩu vào Việt Nam thì các nước này được loại khỏi phạm vi áp dụng biện pháp chống bán phá giá.”

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 20 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại, biên độ giá được xác định theo một trong các cách sau đây: so sánh giữa giá trị bình quân gia quyền của giá thông thường với giá trị bình quân gia quyền của giá xuất khẩu; so sánh giữa giá thông thường với giá xuất khẩu trên cơ sở từng giao dịch; so sánh giữa giá trị bình quân gia quyền của giá thông thường với giá xuất khẩu trên cơ sở từng giao dịch với điều kiện tồn tại sự khác biệt đáng kể của giá xuất khẩu giữa những người mua, khu vực địa lý và thời điểm xuất khẩu. Cụm từ “giá trị bình quân gia quyền” được hiểu là giá trị trung bình có trọng số, là số bình quân hay trung bình mà trong đó các con số thành phần có giá trị hay trọng số khác nhau.

2.1.2.2. Điều kiện xác định có bán phá giá  

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 77 Luật quản lý ngoại thương 2017, hàng hóa được xác định bị bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam với giá thấp hơn giá thông thường là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự bán tại nước xuất khẩu hoặc tại một nước thứ ba trong các điều kiện thương mại thông thường hoặc mức giá mà Cơ quan điều tra xác định bằng phương pháp tự tính toán.

Giá thông thường theo pháp luật Việt Nam cụ thể là theo Điều 16 Nghị định 10/2018/ NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại, được xác định bằng phương pháp sau: Thứ nhất, trường hợp hàng hóa tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu với khối lượng, số lượng đáng kể (chiếm ít nhất 5% tổng khối lượng, số lượng hàng hóa bị điều tra xuất khẩu sang Việt Nam), giá thông thường là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu theo điều kiện thương mại thông thường quy định tại Điều 17 của Nghị định này; thứ hai, trong trường hợp không có hàng hóa tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu hoặc trong trường hợp việc bán trong nước đó không cho phép việc so sánh hợp lý do điều kiện đặc biệt của thị trường đó hoặc do hàng hóa tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu với khối lượng, số lượng không đáng kể thì giá thông thường được xác định theo một trong các cách sau đây: Giá xuất khẩu của hàng hóa tương tự sang một nước thứ ba thích hợp với điều kiện giá xuất khẩu đó mang tính đại diện hoặc cơ quan điều tra tự xây dựng dựa trên giá thành hợp lý của hàng hóa cộng thêm các chi phí hợp lý khác và lợi nhuận ở mức hợp lý dựa trên từng công đoạn từ khâu sản xuất đến lưu thông trên thị trường của nước xuất khẩu hoặc nước thứ ba.

Theo Điều 17 Nghị định 10/2018/ NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại, Hàng hóa tương tự được coi là bán trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu theo điều kiện thương mại thông thường trừ các trường hợp sau đây:

(1) Các giao dịch bán hàng hóa tương tự trên thị trường nội địa nước xuất khẩu, hoặc giao dịch xuất khẩu sang thị trường nước thứ ba có giá bán thấp hơn chi phí sản xuất trong một khoảng thời gian ít nhất là 06 tháng và khối lượng, số lượng này ít hơn 20% tổng khối lượng, số lượng bán hàng trong nước hoặc xuất khẩu sang thị trường nước thứ ba;

(2) Các giao dịch bán hàng hóa tương tự trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu hoặc giao dịch xuất khẩu sang thị trường nước thứ ba được thực hiện giữa các bên có mối quan hệ bên này trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát bên kia hay cả hai bên đều trực tiếp hoặc gián tiếp bị kiểm soát bởi một bên thứ ba hay cả hai bên cùng trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát bên thứ ba; và giá bán giữa các bên này không phản ánh giá thị trường;

(3) Các giao dịch bán hàng hóa tương tự trên thị trường nội địa nước xuất khẩu hoặc các giao dịch xuất khẩu sang thị trường nước thứ ba được thực hiện trên cơ sở các thỏa thuận bù trừ.

            Ngoài ra, hàng hóa hạ giá không bị xem là vi phạm pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu trong một số trường hợp sau: “hàng tươi sống; hàng hóa tồn kho; hàng hóa, dịch vụ theo mùa vụ; hàng hóa, dịch vụ để khuyến mại theo quy định của pháp luật; hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp doanh nghiệp phá sản, giải thể; thay đổi địa điểm, ngành nghề sản xuất, kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ khi thực hiện chính sách bình ổn giá của Nhà nước.”[16]

2.1.2.3. Xác định thiệt hại vật chất

Điều 3 Hiệp định chống bán phá giá quy định rằng: việc xác định tổn phải được tiến hành dựa trên bằng chứng xác thực và thông qua điều tra khách quan về cả hai khía cạnh: khối lượng hàng hóa nhập khẩu được bán phá giá và ảnh hưởng của hàng hóa được bán phá giá đến giá trên thị trường nội địa của các sản phẩm tương tự; và hậu quả của việc nhập khẩu này đối với các nhà sản xuất các sản phẩm trên ở trong nước.

Căn cứ Điều 23 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại, việc xác định thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước dựa trên cơ sở xem xét các yếu tố sau đây:

(1) Sự gia tăng tuyệt đối hoặc tương đối của khối lượng, số lượng hàng hóa bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam so với khối lượng, số lượng hàng hóa tương tự sản xuất trong nước hoặc tiêu dùng trong nước;

(2) Tác động ép giá, kìm giá của hàng hóa bị điều tra nhập khẩu vào Việt Nam đối với giá bán của hàng hóa tương tự sản xuất trong nước;

(3) Tác động của hàng hóa bị bán phá giá đối với tình trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành sản xuất trong nước, bao gồm mức suy giảm thực tế, suy giảm tiềm ẩn của doanh thu, lượng bán hàng, lợi nhuận, sản lượng, thị phần, công suất, năng suất, đầu tư; các yếu tố ảnh hưởng đến giá bán trong nước; độ lớn của biên độ bán phá giá; và ảnh hưởng bất lợi thực tế và tiềm ẩn đối với dòng tiền, tồn kho, lao động, tiền lương, khả năng huy động vốn;

(4) Các yếu tố tác động khác.

Đối với việc xác định đe dọa gây thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước thì dựa trên cơ sở xem xét các yếu tố sau đây[17]:

(a) Sự gia tăng tuyệt đối hoặc tương đối của khối lượng, số lượng hàng hóa bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam so với khối lượng, số lượng hàng hóa tương tự sản xuất trong nước hoặc so với tiêu dùng trong nước;

(b) Năng lực sản xuất của nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài đủ lớn hoặc có thể gia tăng đáng kể trong tương lai gần dẫn đến khả năng gia tăng đáng kể của khối lượng, số lượng hàng hóa bị điều tra nhập khẩu vào Việt Nam;

(c) Hàng hóa bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam làm giảm giá đáng kể, hoặc kìm giá ở mức đáng kể, hoặc ngăn không cho tăng đáng kể giá bán của hàng hóa tương tự sản xuất trong nước, dẫn đến khả năng gia tăng nhu cầu đối với hàng hóa nhập khẩu;

(d) Số liệu tồn kho của hàng hóa bị điều tra;

(e) Các yếu tố khác.

Việc xem xét tổng hợp các yếu tố quy này cho thấy khả năng thực tế gia tăng nhập khẩu hàng hóa bị bán phá giá và nếu không áp dụng biện pháp chống bán phá giá thì thiệt hại đáng kể sẽ xảy ra.

Việc xác định sự hình thành của ngành sản xuất trong nước [18]được xem xét dựa trên các yếu tố sau đây: đặc điểm của ngành sản xuất trong nước; thời gian hoạt động của ngành sản xuất trong nước; quy mô hoạt động của ngành sản xuất trong nước so với toàn bộ thị trường; điểm hòa vốn tài chính hợp lý của ngành sản xuất trong nước; ngành sản xuất đang xem xét là ngành sản xuất mới hay là sự mở rộng dây chuyền của ngành sản xuất hiện tại; các yếu tố khác mà Cơ quan điều tra xác định là phù hợp.

Trong trường hợp có nhiều cuộc điều tra chống bán phá giá về cùng một sản phẩm được nhập khẩu từ nhiều nước khác nhau thì theo Hiệp định Chống bán phá giá, cơ quan điều tra có thể đánh giá ảnh hưởng một cách tổng hợp của hàng nhập khẩu này chỉ trong trường hợp cơ quan này xác định được: một là biên độ bán phá giá được xác định đối với hàng nhập khẩu từ mỗi nước vượt quá mức tối thiểu có thể bỏ qua (thấp hơn 2% của giá xuất khẩu) và số lượng hàng nhập khẩu từ mỗi nước không ở mức có thể bỏ qua được; hai là việc đánh giá gộp các ảnh hưởng của hàng nhập khẩu là thích hợp nếu xét đến điều kiện cạnh tranh giữa các sản phẩm nhập khẩu với nhau và điều kiện cạnh tranh giữa các sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm tương tự trong nước.

Ảnh hưởng của hàng nhập khẩu được bán phá giá sẽ được đánh giá trong mối tương quan với sản xuất trong nước của sản phẩm tương tự nếu như các số liệu có được cho phép phân biệt rõ ràng ngành sản xuất đó trên cơ sở các tiêu chí về qui trình sản xuất, doanh số và lợi nhuận của nhà sản xuất. Nếu như việc phân biệt rõ ràng ngành sản xuất đó không thể tiến hành được, thì ảnh hưởng của hàng nhập khẩu được bán phá giá sẽ được đánh giá bằng cách đánh giá việc sản xuất của một nhóm hoặc dòng sản phẩm ở phạm vi hẹp nhất, trong đó vẫn bao gồm sản phẩm tương tự, để có thể có được các thông tin cần thiết về nhóm sản phẩm này.

2.1.2.4. Cơ quan chống bán phá giá và cơ quan ra quyết định chống bán phá giá

Cục phòng vệ thương mại (Trade Remedies Authority of Vietnam) thuộc Bộ Công Thương Việt Nam là cơ quan quản lý và tổ chức thực thi pháp luật đối với lĩnh vực chống bán phá giá. Theo quyết định Số: 3752/QĐ-BCT của Bộ Công Thương, cục phòng vệ thương mại có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, đề án, chiến lược, cơ chế, chính sách về chống bán phá giá khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, ban hành; báo cáo kết quả điều tra vụ việc chống bán phá giá, và trình Bộ trưởng Bộ Công Thương ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp chống bán phá giá;… Theo Điều 81 Luật quản lý ngoại thương 2017, Căn cứ vào kết luận cuối cùng của Cơ quan điều tra, Bộ trưởng Bộ Công Thương ra quyết định áp dụng hay không áp dụng thuế chống bán phá giá. Bên cạnh đó,việc áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời do Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định căn cứ vào kết luận sơ bộ của Cơ quan điều tra.

Căn cứ theo Nghị định số 98/2017/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Công Thương về chống bán phá giá được quy định như sau: (1) tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam; (2) chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương trong việc trợ giúp hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp khi bị điều tra, áp dụng biện pháp chống bán phá giá của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam; (3) Thực hiện các công việc liên quan đến giải quyết các tranh chấp về các vụ kiện chống bán phá giá tại WTO và các tổ chức quốc tế.

2.1.2.5. Các biện pháp chống bán phá giá

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 77 Luật quản lý ngoại thương 2017, pháp luật Việt Nam quy định về các biện pháp chống bán phá giá bao gồm hai biện pháp sau: thứ nhất, áp dụng thuế chống bán phá giá; thứ hai, cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá với Cơ quan điều tra của Việt Nam hoặc với các nhà sản xuất trong nước nếu được Cơ quan điều tra chấp thuận.

Về biện pháp áp dụng thuế chống bán phá giá, theo Điều 12 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016, điều kiện áp dụng thuế chống bán phá giá là: hàng hóa nhập khẩu bán phá giá tại Việt Nam và biên độ bán phá giá phải được xác định cụ thể; việc bán phá giá hàng hóa là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước. Về nguyên tắc áp dụng: Thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng ở mức độ cần thiết, hợp lý nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước; Việc áp dụng thuế chống bán phá giá được thực hiện khi đã tiến hành Điều tra và phải căn cứ vào kết luận Điều tra theo quy định của pháp luật; Thuế chống bán phá giá được áp dụng đối với hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam; Việc áp dụng thuế chống bán phá giá không được gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế – xã hội trong nước. Thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá không quá 05 năm, kể từ ngày quyết định áp dụng có hiệu lực. Trường hợp cần thiết, quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá có thể được gia hạn.

Về biện pháp cam kết, theo Khoản 2 Điều 81 Luật quản lý ngoại thương 2017, sau khi có kết luận sơ bộ và trước khi kết thúc điều tra, nhà sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị điều tra có thể đưa ra cam kết với Cơ quan điều tra về việc tự nguyện điều chỉnh giá bán hoặc tự nguyện hạn chế khối lượng, số lượng hàng hóa bị điều tra xuất khẩu vào Việt Nam. Tuy nhiên, cơ quan điều tra có thể chấp nhận, không chấp nhận hoặc đề nghị điều chỉnh nội dung cam kết trên cơ sở lấy ý kiến của tổ chức, cá nhân đại diện cho ngành sản xuất trong nước. Việc cam kết sẽ bao gồm các nội dung chính sau: Phạm vi hàng hóa; giá tham chiếu bao gồm giá tự xác định, mức tăng giá, phương án điều chỉnh giá; nghĩa vụ thông báo định kỳ; nghĩa vụ hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình thực hiện cam kết; các nội dung khác do Cơ quan điều tra xác định là phù hợp. Các cam trên sẽ được xem xét dựa trên căn cứ: việc áp dụng cam kết có khả năng khắc phục được thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước; cơ chế quản lý hiện tại có thể giám sát hiệu quả việc thực hiện cam kết;khả năng lẩn tránh biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp thông qua cam kết; các yếu tố khác mà cơ quan điều tra xác định là phù hợp.[19]

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá

2.2.1. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam

            Theo quy định của pháp luật hiện hành, Bộ Công thương là cơ quan nhà nước có nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam (Nghị đinh số 98/2018/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ công thương) và Cục phòng vệ thương mại là cơ quan nhà nước có nhiệm vụ thụ lý hồ sơ, tổ chức điều tra việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam để đề xuất áp dụng các biện pháp chống bán phá giá theo quy định của pháp luật (Quyết định Số: 3752/QĐ-BCT của Bộ Công Thương).

Tính đến năm 2020, Việt Nam đã kháng kiện thành công 65/151 vụ điều tra về phòng vệ thương mại, chấm dứt việc bị áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, chiếm tỷ lệ 43%. Nhờ đó, nhiều loại hàng hóa xuất khẩu không còn bị áp thuế hoặc áp thuế thấp.

Các quốc gia điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam nhiều nhất bao gồm Hoa Kỳ với tổng số 34 vụ việc, Ấn Độ với 26 vụ việc, Thổ Nhĩ Kỳ với 21 vụ việc, Canada và Australia với lần lượt 15 và 11 vụ việc.

Những vụ kháng kiện thành công đã giúp nhiều doanh nghiệp xuất khẩu tiếp tục được hưởng mức thuế 0% hoặc rất thấp, giúp duy trì tăng trưởng xuất khẩu, nhất là sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Canada…

Tính đến hết tháng 9-2020, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã bị điều tra gần 200 vụ việc phòng vệ thương mại với kim ngạch bị ảnh hưởng lên đến 12 tỉ đô la Mỹ. Đáng lưu ý, số lượng và kim ngạch các vụ việc đang tăng nhanh trong thời gian qua. Trong cả năm 2019 mới ghi nhận 16 vụ việc khởi xướng mới nhưng chỉ 9 tháng đầu năm 2020 đã ghi nhận số lượng vụ việc tăng gấp đôi (32 vụ việc).

Một số mặt hàng nhập khẩu đang bị điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá ở Việt Nam gần đây như: sản phẩm Sorbitol dạng lỏng (xiro Sorbitol) với hàm lượng D-Sorbitol tính theo chất khô không nhỏ hơn 50% thuộc các mã HS 2905.44.00 và 3824.60.00 có xuất xứ từ Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia (Quyết định số 3298/QĐ-BCT ); một số sản phẩm đường mía có mã HS 1701.13.00, 1701.14.00 và 1701.99.10 xuất xứ từ Thái Lan (Quyết định số 2466/QĐ-BCT);…

Một số các vụ kiện chống bán phá giá tiêu biểu có liên quan đến Việt Nam như: vụ kiện sợi- vụ điều tra chống bán phá giá do Thổ Nhĩ Kỳ khởi xướng đối với sản phẩm sợi Việt Nam(18/10/2012); vụ kiện thép cuộn không gỉ- vụ điều tra chống bán phá giá do Braxin khởi xướng 14/03/2012 nhập khẩu từ Việt Nam ,Nam Phi, Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc, Phần Lan , Đài Loan; …Trong đó không thể không kể đến vụ kiện “Tôm đông lạnh nước ấm”- Vụ giải quyết tranh chấp đầu tiên của Việt Nam tại WTO.

2.2.2. Vụ tôm đông lạnh nước ấm (WT/DS404):

2.2.2.1. Nội dung và kết quả vụ kiện

Ngày 20/1/2004 Bộ thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã chính thức khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm tôm nước ấm đông lạnh của Việt Nam. Việc điều tra được tiến hành đối với 3 doanh nghiệp bị đơn có lượng xuất khẩu lớn nhất (bao gồm: Minh Phú, Minh Hải và Camimex – gọi là bị đơn bắt buộc). Tháng 2/2005, DOC chính thức áp thuế chống bán phá giá với các thuế suất: “(i)từ 4,3% đến 5,24% đối với từng bị đơn bắt buộc; (ii) mức 4,57% (là mức bình quân gia quyền của thuế suất áp dụng cho 3 bị đơn bắt buộc) đối với các bị đơn tự nguyện không được lựa chọn điều tra; và (iii) mức thuế suất toàn quốc 25,76% cho tất cả các doanh nghiệp còn lại”[20]. Theo nội luật Hoa Kỳ về chống bán phá giá, sau tròn mỗi năm kể từ ngày lệnh áp thuế chống bán phá giá của DOC được ban hành, DOC sẽ tiến hành rà soát hành chính để xét lại mức thuế chính thức mà mình đã áp đối với khoảng thời gian 1 năm liền trước đó. Theo đó, tính tới thời điểm tháng 2/2010 (thời điểm Việt Nam đệ đơn yêu cầu tham vấn Hoa Kỳ), DOC đã tiến hành 3 cuộc rà soát hành chính (POR) (bên nguyên đơn đã không yêu cầu rà soát hành chính năm đầu tiên sau khi đã thống nhất với phía Việt Nam). Tuy nhiên, vào thời điểm đó mới chỉ có kết quả cuối cùng của đợt rà soát hành chính lần thứ hai và lần thứ ba.

“Trong đợt rà soát lần thứ hai – POR2 (04/2007), mức thuế suất của các bị đơn bắt buộc (Minh Phú, Camimex) đạt mức thuế suất không đáng kể (0-0,01%), các bị đơn tự nguyện không được lựa chọn bị áp thuế theo mức thuế suất từ điều tra ban đầu là 4,57%, mức thuế suất toàn quốc cũng áp dụng theo điều tra ban đầu là 25.76

Trong đợt rà soát lần thứ ba – POR3 (04/2008), 3 doanh nghiệp bị đơn bắt buộc đều nhận được mức thuế suất tối thiểu (Minh Phú: 0,43%; Camimex: 0,08%; Phương Nam: 0,21%), nhóm các doanh nghiệp bị đơn tự nguyện không được hưởng mức thuế suất theo thực tế điều tra mà tiếp tục bị áp thuế chống bán phá giá theo điều tra ban đầu là 4,57%, thuế suất toàn quốc là 25,76%.”[21]

“Ngày 01/2/2010, Chính phủ Việt Nam (thông qua Phái đoàn Việt Nam tại Geneva) chính thức trao cho phía Hoa Kỳ bản “Yêu cầu tham vấn”, trong đó đề nghị trao đổi một số vấn đề về “kết quả xem xét hành chính của vụ kiện chống bán phá giá tôm” liên quan tới việc tuân thủ Điều I, II, VI:1 và V:2 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) 1994; Điều 1, 2.1, 2.4, 2.4.4, 6.8,6.10, 9.1, 9.4, 11.2, 11.3, 18.1 và 18.4 Phụ lục II của Hiệp định chống bán phá giá; Điều XVI:4 của Hiệp định thành lập WTO và Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam. Do không đạt được kết quả trong giai đoạn tham vấn, ngày 07/4/2010, Việt Nam chính thức có đơn đề nghị thành lập Ban Hội thẩm (panel request) để xét xử tranh chấp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ về mặt hàng tôm nước ấm đông lạnh xuất khẩu của Việt Nam. Nội dung Ban Hội thẩm của Việt Nam tập trung vào các điểm chính sau đây:

(1) Phương pháp quy về không (zeroing) của DOC trong tính toán biên độ phá giá đối với tôm Việt Nam. Zeroing là phương pháp tính biên độ phá giá cho nhóm sản phẩm thuộc diện điều tra mà theo đó đối với sản phẩm mà có giá xuất khẩu thấp hơn giá thông thường (hay giá trong nước) thì biên độ phá giá là “dương”, nhưng sản phẩm khác có giá xuất khẩu cao hơn giá thông thường (hay giá trong nước), biên độ phá giá không tính là “âm” mà bị qui về bằng 0. Kết quả là một con số bình quân giữa “dương” và “0” được áp lên tất cả nhóm sản phẩm thuộc diện điều tra. Hoa Kỳ là nước áp dụng biện pháp này nhiều nhất và vì vậy cũng bị nhiều khiếu kiện về việc áp dụng các biện pháp này. Nước khởi kiện Hoa Kỳ về zeroing bao gồm không chỉ những nước đang phát triển mà còn có cả các nước phát triển, đối tác thương mại của Hoa Kỳ như EC, Canada, Nhật Bản…;

(2) Giới hạn số lượng các nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất được lựa chọn để điều tra hoặc rà soát đơn lẻ. Điều 6.10 Hiệp định thực thi điều VI của GATT 1994 (Hiệp định chống bán phá giá-gọi tắt là ADA) cho phép Cơ quan điều tra của một nước có thể tiến hành điều tra một số nhà xuất khẩu mà không nhất thiết phải tiến hành điều tra đối với tất cả các nhà xuất khẩu để tính biên độ phá giá. Tuy nhiên ADA cũng có quy định điều kiện đối với việc lựa chọn nhà xuất khẩu để tiến hành điều tra nhằm để hạn chế việc xác định biên độ phá giá tùy tiện và không sát thực tế đối với doanh nghiệp không được điều tra (non-mandatory respondents). Như vậy sẽ có mức thuế suất cụ thể cho từng nhà xuất khẩu được điều tra (bị đơn bắt buộc – mandatory respondents) và có mức chung cho các nhà xuất khẩu khác (all others rate).  Trên cơ sở này, trong hầu hết các giai đoạn của các vụ kiện chống bán phá giá, Hoa Kỳ không tiến hành điều tra tất cả các nhà xuất khẩu;

(3)Áp dụng thuế suất toàn quốc (country wide rate) đối với toàn bộ doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam với lý do hoạt động của các doanh nghiệp này không có sự độc lập với Chính phủ. Mức thuế cao nhất lên đến 25,67%. Với mức thuế này, doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam phải chịu mức đặt cọc khổng lồ khi xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Theo pháp luật Hoa Kỳ, đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường có 3 loại mức thuế như sau: mức thuế suất cụ thể áp dụng cho từng bị đơn bắt buộc;  mức thuế suất chung áp dụng cho các bị đơn tự nguyện tham gia nhưng không phải là bị đơn bắt buộc; mức thuế suất toàn quốc dành cho các doanh nghiệp còn lại;”[22]

Ngày 11/7, WTO đã ra phán quyết, theo đó, Mỹ đã xâm phạm luật thương mại toàn cầu khi tính toán thuế chống bán phá giá với mặt hàng tôm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam. WTO cho rằng Mỹ đã hành động thiếu nhất quán với những điều khoản của Thỏa thuận chống bán phá giá và Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch. Do đó, phán quyết công bố Mỹ đã  thực hiện trái với quy định của WTO (thua kiện) ở 2/3 vấn đề chính mà Việt Nam đưa ra trước Ban hội thẩm. Hai vấn đề này liên quan đến việc Mỹ áp dụng phương pháp quy về không trong khi tính biên độ phá giá trong các đợt rà soát hành chính lần thứ 2 và 3 và việc Mỹ áp đặt thuế suất toàn quốc. Tuy nhiên, về việc Mỹ hạn chế số lượng các công ty được điều tra riêng lẻ thì Ban hội thẩm kết luận Bộ Thương mại Mỹ không trái với quy định của WTO. Về nội dung “tiếp tục hành vi bị khiếu kiện” Ban hội thẩm đã không xem xét nội dung này với lý do không nằm trong phạm vi thẩm quyền. Phán quyết nói trên đã được chính thức thông qua tại cuộc họp của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) vào ngày 2/9/2011.

Có thể nói phán quyết nói trên là một thắng lợi lớn đối với Việt Nam xét trên phương diện pháp lý. Việc thực thi phán quyết của Ban Hội thẩm trong vụ kiện này đang được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của WTO thông qua việc Hoa Kỳ phải giải trình tại các phiên họp toàn thể của DSB (thông thường định kỳ hàng tháng).

2.2.2.2. Bài học rút ra
2.2.2.2.1. Đối với doanh nghiệp Việt Nam

(1) Về công tác pháp chế của doanh nghiệp

Vụ kiện nói trên đã cho thấy tầm quan trọng về pháp luật đối với doanh nghiệp. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật không chỉ trong nước mà còn của quốc tế, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu. Bộ phận pháp chế doanh nghiệp sẽ là bộ phận có vai trò đảm bảo mọi hoạt động của doanh nghiệp có thể hoạt động đúng quy định của pháp luật; từ đó giảm thiểu mọi rủi ro pháp lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Trong trường hợp doanh nghiệp bị đưa vào diện điều tra bán phá giá thì bộ phận pháp lý của doanh nghiệp phải hành động phối hợp với các cơ quan nhà nước để tìm ra hướng giải quyết. Doanh nghiệp Việt Nam phải tăng cường pháp chế về chuyên môn thương mại quốc tế thay vì chỉ quan tâm đến thương mại trong nước như trước đây. Khi pháp chế doanh nghiệp có sự am hiểu nhất định về pháp luật thương mại quốc tế thì việc phối hợp với luật sư và cơ quan nhà nước sẽ có hiểu quả cao hơn, tạo điều kiện có lợi hơn trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế.

Hiện nay ở các Bộ, ngành công tác pháp chế rất được quan tâm. Chính phủ đã ban hành Nghị định 66/2008/NĐ-CP ban hành Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, vì vậy các doanh nghiệp cần tận dụng điều kiện này, không ngừng cập nhật pháp luật để ngăn ngừa, giảm thiểu những rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra bất cứ lúc nào cho doanh nghiệp

(2)Tăng cường phối hợp giữa doanh nghiệp với Chính phủ

Vụ kiện tôm có thể coi là ví dụ điển hình cho sự phối hợp nhịp nhàng giữa doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp với các cơ quan Chính phủ. Từ đó, rút ra bài học là các doanh nghiệp cần chủ động, tích cực tham gia các vụ kiện phòng vệ thương mại và tăng cường sự phối hợp chặt chẽ với Chính phủ và cơ quan đại diện ở nước ngoài. Trong quá trình tham gia các vụ điều tra do cơ quan điều tra nước ngoài tiến hành, nếu phát hiện có những vi phạm pháp luật WTO hoặc pháp luật nước đó, doanh nghiệp cần mạnh dạn, chủ động thông báo cho Chính Phủ để được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng

(3)Tăng cường phối hợp giữa doanh nghiệp với cơ quan đại diện ở nước ngoài

Hiện nay sự liên hệ, phối hợp với cơ quan đại diện ở nước ngoài dường như mới chỉ khoanh vùng ở vai trò của các cơ quan chính phủ (vụ kiện Tôm là một ví dụ). Đối với các nước phát triển, doanh nghiệp có thể tạo kênh liên hệ, trao đổi trực tiếp với cơ quan đại diện, đặc biệt là cung cấp thông tin, dữ liệu thương mại, đề nghị cơ quan đại diện làm cầu nối cho các tiếp xúc song phương và đa phương

Tóm lại, bài học rút ra cho doanh nghiệp là phải chủ động và ứng xử với các vấn đề tranh chấp bán phá giá nói riêng theo 3 nguyên tắc. Thứ nhất: doanh nghiệp nên coi các biện pháp phòng vệ thương mại như một loại rủi ro trong kinh doanh và có sẵn phương án quản lý rủi ro ấy. Thứ hai: khi có vụ viện xảy ra, thay vì buông xuôi và lảng tránh nó, các doanh nghiệp cần có thái độ ứng xử tích cực. Khi doanh nghiệp chủ động tham gia vào vụ kiện bằng cách tham vấn các cơ quan quản lý, chủ động đứng đơn kháng kiện… thì có thể hạn chế những thiệt hại, thậm chí là ngăn chặn được vụ kiện hoặc thắng kiện như vụ kiện trên. Thứ ba và cũng rất quan trọng là: trong quá trình kinh doanh tại bất kỳ thị trường nào, doanh nghiệp cần coi trọng công tác tự cảnh báo, xem xét kỹ các nguy cơ để đưa ra phương án kinh doanh thích hợp như điều chỉnh tần suất bán, giá cả, thay đổi phương thức thanh toán… Đơn giản như việc nếu giá bán hàng của chúng ta thấp hơn quá nhiều so với hàng hóa của doanh nghiệp bản địa thì có thể xem xét việc tăng giá trong mức cho phép để tránh sự chênh lệch quá mức.

2.2.2.2.2. Đối với cơ quan quản lý nhà nước

(1)Về hoàn thiện thể chế

Qua vụ kiện đầu tiên tại WTO với tư cách nguyên đơn, trên cơ sở phân tích, lập luận ở trên, có thể thấy rằng về mặt thể chế trong nước của chúng ta còn một số vấn đề tiếp tục cần được hoàn thiện, cụ thể như sau:

Tiếp tục hoàn thiện thể chế về vai trò của các hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ theo hướng tạo điều kiện tối đa cho các tổ chức này cũng như các chuyên gia, nhà khoa học được tham gia sâu, tiếp cận sớm với hồ sơ, tài liệu của vụ kiện để có ý kiến tư vấn, phản biện, giúp cho các cơ quan chính phủ có thêm cơ sở khoa học để xử lý tốt hơn công việc của mình. Trong vụ kiện Tôm, tiếng nói của chuyên gia đã đóng góp một phần đáng kể vào thắng lợi quan trọng nhất của phía Việt Nam.

(2) Về tăng cường năng lực cán bộ

Trong vụ kiện này, cơ bản chúng ta đều phải thuê  đội ngũ luật sư nước ngoài. Việc làm này vừa rất tốn kém, mặt khác cũng đặt ra nhiều hoài nghi về vấn đề bảo mật thông tin. Tất nhiên, không thể hy vọng một sớm một chiều chúng ta có thể đào tạo được ngay một lực lượng luật sư đủ khả năng tham gia tranh tụng tại WTO, nhưng về lâu dài chúng ta không thể không tính đến điều này. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành “Đề án đào tạo luật sư, chuyên gia pháp luật phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2008-2010” (Đề án 123) trong đó giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành triển khai thực hiện. Vừa qua Bộ Tư pháp đã tổng kết Đề án này và kết quả cho thấy vẫn còn ở mức độ rất khiêm tốn. Về lâu dài có thể tham khảo thêm kinh nghiệm của Trung Quốc, Ấn Độ. Họ cử “đội ngũ nguồn” đi học luật thương mại quốc tế ngay từ bậc đại học tại các nước phát triển, sau đó trở về phục vụ Chính phủ với chế độ đãi ngộ thích đáng.

(3) Về tăng cường năng lực cho hệ thống dự báo/cảnh báo sớm

Hệ thống cảnh báo sớm (early warning system) là sản phẩm của các nước phát triển ngay từ khi GATT 47 ra đời. Theo đó hệ thống cảnh báo sớm sẽ giúp Chính phủ nói chung và doanh nghiệp nói riêng (i) Xác định sớm các mối đe dọa/nguy cơ bị điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu trước khi chính thức có đơn khởi kiện từ các ngành sản xuất của nước ngoài; (ii) Các doanh nghiệp có đủ thời gian và điều kiện để kịp thời điều chỉnh nhằm loại bỏ những mối đe dọa và chủ động đối phó với các cuộc điều tra của các cơ quan có liên quan của nước ngoài. Nhóm đối tượng hưởng lợi trực tiếp của hệ thống này là các doanh nghiệp xuất khẩu. Họ sẽ được tiếp cận với các thông tin, số liệu về xuất nhập khẩu các mặt hàng chủ lực vào các thị trường chính. Họ cũng sẽ được cảnh báo nếu có nguy cơ xảy ra các vụ kiện phòng vệ thương mại và được tư vấn để phòng tránh các vụ kiện cũng như giảm thiểu thiệt hại trong trường hợp vụ kiện xảy ra.

Việt Nam đã chính thức khai trương hệ thống này vào năm 2010[8], tuy nhiên kết quả đạt được có thể nói là còn ở mức độ khiêm tốn. Trong thời gian tới Chính phủ cần đầu tư thích đáng cho hệ thống này, bao gồm nhiều khâu từ mua thông tin thương mại, nâng cấp cơ sở dữ liệu thương mại, phân tích các án lệ, phát huy vai trò “tiền phương” của các cơ quan đại diện ở nước ngoài…

(4) Tăng cường năng lực cho cơ quan đại diện ở nước ngoài; cơ chế tham gia sâu vào Cơ quan giải quyết tranh chấp

Đối với các nước phát triển và mới nổi, họ rất quan tâm đầu tư cho lực lượng luật sư/chuyên gia pháp lý tại các cơ quan đại diện, đặc biệt tại các địa bàn đa phương. Trước mắt, Chính phủ nên quan tâm hơn nữa đến đội ngũ này tại một số địa bàn như Geneva, New york, Brussels-là những địa bàn tiền phương quan trọng tham gia vào giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế. Cần xây dựng lộ trình để Việt Nam từng bước tham gia sâu vào hoạt động của Cơ quan giải quyết tranh chấp cùa WTO (cử chuyên gia tham gia các Panel, ứng cử vào Cơ quan giải quyết tranh chấp, Chủ tịch DSB, chair của các nhóm đàm phán DSU…). Ngay tại địa bàn Geneva cũng cần quan tâm tăng cường số lượng cán bộ pháp lý vì trên thực tế, tại Phái đoàn thường trực của các nước lớn như Hoa Kỳ, EU, Nga, Nhật Bản…thường có từ 3-5 cán bộ pháp lý. Một số Phái đoàn ASEAN như Thái Lan, Singapore, Malaysia cũng có 02 cán bộ pháp lý.

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

3.1. Thành tựu và hạn chế của pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá

3.1.1. Thành tựu

Trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào các FTA, các vụ việc chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam  ngày càng nhiều hơn với tính chất phức tạp gia tăng. Ở chiều ngược lại, một số ngành sản xuất trong nước của Việt Nam cũng phải chịu áp lực từ việc gia tăng nhập khẩu do các tác động mở cửa thị trường và cần đến những công cụ chính sách về chống bán phá giá để bảo vệ lợi ích của ngành.

Thực hiện cam kết theo các Hiệp định thương mại đã ký, Việt Nam đã mở cửa thị trường và cắt giảm thuế nhập khẩu đối với nhiều mặt hàng từ các đối tác thương mại quan trọng. Điều này đặt các doanh nghiệp, ngành hàng Việt Nam trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của hàng hoá nhập khẩu, đặc biệt là từ các nước trong khu vực

“Thời gian qua, Bộ Công Thương đã kịp thời áp dụng các biện pháp chống bán phá giá để bảo vệ ngành sản xuất nội địa nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh. Theo đó, cho đến hết năm 2015, Việt Nam mới chỉ điều tra và áp dụng được 2 biện pháp phòng vệ thương mại đối với mặt hàng dầu ăn và thép không gỉ cán nguội (inox). Tuy nhiên, chỉ trong giai đoạn 2016 đến nay, Bộ Công Thương đã khởi xướng điều tra, áp dụng 18 biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ hoạt động sản xuất của các ngành sản xuất trong nước, cụ thể là đối với các sản phẩm như phân bón DAP/MAP, bột ngọt (tự vệ và chống bán phá giá), các sản phẩm sắt thép như phôi thép, thép dài, thép mạ, thép hình, tôn màu, nhôm thanh định hình, màng BOPP, sợi filament, đường lỏng HFCS, đường sản xuất từ mía.”[23]

Các biện pháp PVTM trên được nhận định là đã góp phần thực hiện chủ trương phát triển các ngành sản xuất trong nước, cụ thể là bảo vệ công ăn việc làm của gần 150.000 người lao động trong các lĩnh vực được bảo vệ. Mặt khác, theo tính toán, những ngành sản xuất này ước tính (theo GDP Việt Nam năm 2019) đang đóng góp khoảng gần 6% GDP của cả nước. Với việc tăng thuế nhập khẩu, các biện pháp PVTM được áp dụng cũng đã góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước với mức thuế thu được ước tính lên tới hàng nghìn tỷ đồng

Qua theo dõi tác động của các biện pháp PVTM, Bộ Công Thương còn nhận thấy việc tăng trưởng nhập khẩu ồ ạt với những sản phẩm này đã giảm đi đáng kể. Như đối với mặt hàng tôn mạ trước đây mỗi năm nhập khẩu đều tăng gấp đôi so với năm trước thì sau khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá, lượng nhập khẩu đã giảm đáng kể. Nhờ công cụ PVTM, một số doanh nghiệp đã cải thiện đáng kể tình hình sản xuất kinh doanh, thoát khỏi thua lỗ và từng bước ổn định sản xuất như Công ty Phân bón DAP Hải Phòng, Công ty Thép Việt Trung…

Các biện pháp PVTM cũng góp phần ổn định giá đầu vào cho một số ngành sản xuất trong nước. Cụ thể, như đối với phân bón DAP, khi có sản xuất trong nước để tạo đối trọng, giá mặt hàng này đã thấp hơn thời kỳ phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu trước đó. Bằng chứng là trước năm 2009, khi ta không có ngành sản xuất DAP trong nước, giá phân bón DAP (chủ yếu là từ Trung Quốc) đã từng bị đẩy lên ở mức rất cao (18.000 đồng/kg năm 2008) dẫn đến chi phí sản xuất lúa tăng cao. Nhưng sau khi hai nhà máy sản xuất DAP đi vào hoạt động, giá DAP đã giảm liên tục và chỉ còn 8.000 đồng/kg vào cuối năm 2017.

3.1.2. Hạn chế

Thứ nhất, một số quy định của pháp luật về chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam còn khá chung chung và thiếu những quy định cụ thể giúp các doanh nghiệp có thể áp dụng được ngay mà không cần giải thích gì thêm. Các quy định pháp luật về CBPG của Việt Nam còn nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật, nội dung các quy định này còn mang tính định “khung”, điều chỉnh những vấn đề thuộc về nguyên tắc mà chưa đi sâu vào những vấn đề mang tính chất chi tiết, kỹ thuật. Bên cạnh đó, việc điều tra chống bán phá giá ở Việt Nam hiện nay vẫn đang tiến hành theo luật quốc tế cụ thể là Hiệp định chống bán phá giá mà chưa nội luật hóa vào trong luật quốc gia.

Nếu so sánh có thể thấy, hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ và EU đều chi tiết hơn và chứa đựng nhiều quy định cụ thể hơn pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam. Ngoài ra các quy định về thủ tục, một số quy định về nội dung của pháp luật Việt Nam cũng rất chung chung, thậm chí , còn ít cụ thể hơn so với luật lệ của WTO, ví dụ, thiếu các quy định về điều kiện cụ thể và cách thức tính toán giá trị thông thường theo từng phương pháp tính toán khác nhau, về cách thức cụ thể tiến hành xác định thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước, quy định về điều kiện áp dụng biện pháp cam kết về giá, v.v..

Thứ hai, quá trình điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá kéo dài khiến cho các doanh nghiệp trong nước phải chịu thiệt hại từ hành vi bán phá giá.

Ngày 09/02/2021, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 477/QĐ-BCT về việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp tạm thời đối với sản phẩm đường mía có xuất xứ từ Thái Lan. Trải qua gần 5 tháng điều tra, theo tính toán của Bộ Công Thương, đã có 3.300 người lao động bị mất việc làm và 93.225 hộ nông dân bị ảnh hưởng do khó khăn của ngành sản xuất trong nước. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do đường nhập khẩu được trợ cấp và bán phá giá từ Thái Lan tăng mạnh trong năm 2020, con số lên tới gần 1,3 triệu tấn, tăng 330,4% so với năm 2019. Như vậy, trong thời gian tiến hành điều tra thì có rất nhiều doanh nghiệp và người lao động vẫn phải tiếp tục chịu thiệt hại.

Thứ ba, Pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam còn chưa đi sâu vào nhận thức của giới doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Phó Cục trưởng Cục phòng vệ thương mại, Bộ Công thương cho biết rằng đã có những nghi án bán phá giá vào Việt Nam như thịt gà, sợi,…Bộ Công thương đã từng vào tận miền Nam làm việc với các hộ chăn nuôi gia cầm ở Đông Nam Bộ hay đi vào các nhà máy sợi thì thấy dấu hiệu hàng nước ngoài bán phá giá vào Việt Nam tương đối rõ ràng và thực tế các doanh nghiệp Việt Nam đã chịu thiệt hại. Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam thì Bộ Công thương chỉ có thể tiến hành điều tra khi các doanh nghiệp nộp hồ sơ đầy đủ, mặc dù pháp luật cho phép Bộ Công thương có thể tự mình khởi xướng điều tra nhưng chỉ trong trường hợp Bộ công thương tin rằng mình có thể thụ hưởng được đầy đủ để xây dựng một bộ hồ sơ tự khởi xướng đầy đủ như vậy. Các doanh nghiệp Việt thường lơ là về vấn đề chống phá giá và thiệt hại mà nó gây ra, vì vậy mà nhiều trường hợp bán phá giá đã bị bỏ qua. Ngoài ra còn số nguyên nhân mà ngành sản xuất trong nước không nộp hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá như: các doanh nghiệp trong ngành không thống nhất được với nhau về mặt lợi ích, về mặt chịu trách nhiệm nộp hồ sơ hoặc không muốn việc thông tin kinh doanh của mình bị lộ ra ngoài. Chính vì vậy mà tiếp tay cho hành vi bán phá giá trong nước hoành hành, gây thiệt hại kéo dài cho các doanh nghiệp trong ngành đó.

Thứ tư, các thủ tục để có thể khởi kiện và theo kiện chống bán phá giá là hết sức phức tạp nhất là trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của WTO, chúng ta cần phải tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO về vấn đề này, điều đó đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian và công sức.

3.2. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá

3.2.1 Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, cuộc sống vốn dĩ vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp, các quan hệ, các quá trình, hiện tượng xã hội luôn biến động không ngừng, nhất là trong đời sống xã hội và nền kinh tế hiện đại. Rất nhiều các quan hệ xã hội mới nảy sinh cần được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật nhất định nhưng pháp luật hiện hành không theo kịp, nhiều quy phạm pháp luật lạc hậu so với thực tiễn cuộc sống. Pháp luật, dù được hoàn thiện đến đâu cũng không thể nào trù liệu hết được cho mọi trường hợp sẽ xảy ra trong thực tiễn cuộc sống. Nền kinh tế thế giới đang không ngừng phát triển và thay đổi, vấn đề bán phá giá ngày càng trở nên phức tạp, doanh nghiệp trong nước thì phải cảnh giác với các mặt hàng nhập khẩu, doanh nghiệp xuất khẩu thì cần đề phòng bản thân trở thành đối tượng chống bán phá giá của nước nhập khẩu. Các quan hệ phức tập chồng chéo lên nhau là nguyên nhân khách quan khiến pháp luật bán phá giá gặp nhiều trở ngại trong việc áp dụng, khiến việc ban hành các thủ tục khởi kiện trở nên phức tạp và việc điều tra bán phá giá diễn ra trong thời gian dài.

Thứ hai, thị trường Việt Nam rất có sức hút với doanh nghiệp nước ngoài, vì vậy để cạnh tranh được với doanh nghiệp trong nước hoặc chiếm lĩnh thị phần nước nhập khẩu,…các chiêu trò bán phá giá xuất hiện ngày càng nhiều và càng ngày càng tinh vi hơn. Thêm vào đó, nền kinh tế của Việt Nam còn ở trình độ thấp và công tác quản lý xuất nhập khẩu còn nhiều bất cập. Các mặt hàng của ngành sản xuất nội địa của chúng ta còn ít, mức độ cạnh tranh trực tiếp của sản phẩm nhập khẩu với sản phẩm nội địa là không cao về chủng loại mặt hàng.

“Kim ngạch nhập khẩu có tốc độ tăng trung bình trong giai đoạn 2015-2019 ở mức 11,2%/năm”[24]. “Kết thúc năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 517,26 tỷ USD, tăng 7,6% (tương ứng tăng 36,69 tỷ USD) so với năm 2018. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 264,19 tỷ USD, tăng 8,4% và nhập khẩu đạt 253,07 tỷ USD, tăng 6,8%.Trong tháng 12/2019, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 0,26 tỷ USD. Kết quả này đã góp phần đưa mức thặng dư thương mại hàng hóa của cả nước trong năm 2019 đạt thặng dư 11,12 tỷ USD. Tính đến hết tháng 12/2019, trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 253,07 tỷ USD. Trong đó, đã có tới 38 nhóm hàng chính đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 90,7% trong tổng trị giá nhập khẩu của cả nước. Với kết quả này, trị giá nhập khẩu hàng hóa trong năm 2019 cao hơn  năm 2018 là 16,2 tỷ USD, tương ứng tăng 6,8% so với  năm 2018. Các mặt hàng tăng chủ yếu là: máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 8,22 tỷ USD; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng khác tăng 3,87 tỷ USD; ô tô nguyên chiếc các loại tăng 1,33 tỷ USD; than các loại tăng 1,24 tỷ USD; dầu thô tăng 849 triệu USD… Bên cạnh đó có một só nhóm hàng giảm mạnh như: xăng dầu các loại giảm 1,68 tỷ USD; điện thoại các loại & linh kiện giảm 1,3 tỷ USD; kim lọai thường và sản phẩm giảm 1 tỷ USD; lúa mì giảm 455 triệu USD…”[25]

Thị trường trong nước xuất hiện các mặt hàng bán phá giá như sản phẩm thép phủ màu của các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu của Trung Quốc và Hàn Quốc, “hàng hóa nhập khẩu từ hai nước này đang được bán phá giá với biên độ khá cao, từ 2,53% đến 34,27%”[26]( hiện nay đã bị áp thuế chống bán phá giá); sản phẩm thép hình chữ H có xuất xứ từ Ma-lay-xi-a (đang bị điều tra),…

Thứ ba, tư duy các doanh nghiệp trong nước thường đi theo lối mòn kém nhạy bén, đối với các vấn đề mang tính quốc tế thường lơ là.

Tính đến hiện nay thì pháp luật về chống bán phá giá đã xuất hiện ở nước ta hơn 15 năm, một quãng thời gian không tính là dài nhưng cũng không phải ngắn, dù vậy nhiều doanh nghiệp vẫn còn không biết rõ về pháp luật bán phá giá, không tự bảo vệ được mình và bị ảnh hưởng của bán phá giá làm phá sản.

Phó Trưởng phòng Phòng Pháp chế, Cục Phòng vệ thương mại cho biết hiện nay mức độ hiểu biết của doanh nghiệp Việt Nam về phòng vệ thương mại còn rất thấp. Điều này có thể thấy từ một cuộc khảo sát gần đây đã chỉ rõ có 15,09% doanh nghiệp không biết gì về phòng vệ thương mại. Hơn thế nữa, có tới 63,21% có nghe nói nhưng không biết rõ về vấn đề này. Trong khi đó, chỉ có 19,81% doanh nghiệp đã từng tìm hiểu sơ sơ. Và số doanh nghiệp đã tìm hiểu tương đối kỹ về phòng vệ thương mại hoặc là bên liên quan chỉ chiếm 1,89%.

Thứ tư, pháp luật chống bán phá giá là lĩnh vực chưa được đưa vào tuyên truyền, phổ biến trong cuộc sống.

Ngày nay việc đưa pháp luật vào cuộc sống bằng các hình thức tuyên truyền, phổ biến thông quá giáo dục ngày càng trở nên phát triển hơn như: Tổ chức hội nghị triển khai, quán triệt các văn bản pháp luật mới; sinh hoạt ngày pháp luật định kỳ, thi tìm hiểu pháp luật…  tạo không khí học tập, thi đua tìm hiểu pháp luật sôi nổi ở cơ sở. Đơn cử như buổi giao lưu tìm hiểu pháp luật năm 2020 do huyện Thanh Thủy tổ chức vừa qua đã thu hút đông đảo cán bộ, người dân của các xã, thị trấn trên địa bàn huyện tham gia. Với phần thi chào hỏi và thi tiểu phẩm bằng hình thức sân khấu hóa, buổi giao lưu đã chuyển tải những chủ đề gần gũi với đời sống hằng ngày của người dân như: An toàn giao thông, an toàn thực phẩm, phòng, chống xâm hại trẻ em, đẩy mạnh bảo vệ môi trường… Tuy nhiên đối với các lĩnh vực pháp luật mang tính kinh tế thì vẫn chưa đề cập, do đó làm cho sự hiểu biết về pháp luật chống bán phá giá của người dân trở nên ít ỏi, không có sự hiểu biết để đề phòng trước ảnh hưởng của bán phá giá.

3.2.2 Nguyên nhân chủ quan

Hệ thống pháp luật Việt Nam là hệ thống pháp luật thành văn, vì vậy rất đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật. Trong hệ thống pháp luật có 26 loại văn bản được xác định là văn bản quy phạm pháp luật. Theo số liệu của Cơ sở dữ liệu pháp luật Bộ Tư pháp, tính từ ngày 01/01/1987 đến ngày 30/12/2016, chỉ tính riêng văn bản pháp luật do các cơ quan trung ương ban hành thì hệ thống pháp luật nước ta đã có tới gần 20 nghìn văn bản, trong đó có 225 luật, bộ luật đang có và sắp có hiệu lực. Đến tháng 3/2021, số lượng văn bản pháp luật ban hành liên quan đến lĩnh vực bán phá giá đã hết hiệu lực hoặc vẫn còn hiệu lực có thể kể đến như : Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 (Luật số 45/2005/QH11); Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11); Nghị định số 90/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; Nghị định số 04/2006/NĐ-CP ngày 09-01-2006 của Chính phủ về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức Hội đồng xử lý việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ; Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09-01-2006 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh trạnh;…Luật quản lý ngoại thương 2017, Nghị định số 10/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại, Thông tư số 06/2018/TT-BCT ngày 20 tháng 4 năm 2018 quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp phòng vệ thương mại,…

Chính vì ban hành quá nhiều văn bản pháp luật, và sự không rõ ràng trong hiệu lực giữa văn ban mới ban hành và văn bản cũ khiến pháp luật chống bán phá giá có xu thế chồng chéo, mâu thuẫn, khó nắm bắt.

Mặt khác, một trong những lý do khiến việc áp dụng pháp luật chống bán phá giá ở nước ta gặp hạn chế là vì sự đổi mới của pháp luật trong thời gian gần đây. Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam có hiệu lực thi hành 2004 và hết hiệu lực năm 2018, thay đó Luật quản lý ngoại thương 2017 có hiệu lực thi hành. Như vậy mới hơn 2 năm kể từ khi pháp luật chống bán phá giá đổi mới, sự thay đổi là cần thiết lâu dài nhưng nó cũng dẫn đến những khó khăn đáng kể trong việc phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật giữa cơ quan hành pháp với cơ quan lập pháp và tư pháp trong thời gian đầu và tác động không tốt đến sự ổn định của các quan hệ xã hội, nhất là đối với các quan hệ kinh tế.

3.3. Phương hướng và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống bán giá

3.3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá

Qua phân tích về thực trạng của Pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam trên đây, có thể thấy rằng nhìn chung cho đến nay hệ thống pháp luật chống bán phá giá hiện nay của Việt Nam bao trùm khá đầy đủ các khía cạnh của lĩnh vực chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu: từ các quy định “khung” như định nghĩa về “bán phá giá” đến quy định cụ thể về điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá (Luật quản lý ngoại thương 2017), quy định chi tiết về các phương pháp tính toán biên độ bán phá giá; giá thông thường, giá xuất khẩu và phương pháp so sánh công bằng giữa giá thông thường và giá xuất khẩu làm cơ sở để tính toán mức thuế chống bán phá giá (Nghị định số 10/2018/NĐ-CP);…

Một số phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam như sau:

Thứ nhất, trong giai đoạn 2021 – 2030, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, với chi phí tuân thủ thấp, có sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người dân là trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững kinh tế – xã hội và quốc phòng, an ninh.

Thứ hai, cần tổng kết thực tiễn thực hiện pháp luật chống bán phá giá để xác định được rõ những ưu điểm, nhược điểm của Pháp luật chống BPG của Việt Nam, trên cơ sở đó đề ra biện pháp cụ thể để hoàn thiện.

Thứ ba, bên cạnh các cải cách trình tự, thủ tục tổ chức thi hành pháp luật chống bán phá giá theo hướng công khai, minh bạch, thì cần bảo đảm cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong thi hành pháp luật; bảo đảm cơ chế giám sát của cơ quan nhà nước và xã hội đối với công tác rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá.

Thứ tư, cần tiến hành tuyên truyền phổ biến Pháp luật về chống bán phá giá rộng rãi một cách hợp lý với những hình thức đa dạng để cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nhận thức được rõ bản chất của Pháp luật về chống BPG Việt Nam và sử dụng nó như công cụ bảo vệ lợi ích của mình trong bối cảnh kinh tế hội nhập.

3.3.2. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống bán giá

(1) Hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá xuất phát từ yêu cầu vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam phải vận hành theo quy luật chung của nền kinh tế toàn cầu. Vì thế, để hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá cho phù hợp với các tiêu chí của nền kinh tế thị trường, cần phải đáp ứng một số tiêu chí sau đây: Thứ nhất, đòi hỏi tính minh bạch trong pháp luật nói chung và pháp luật về chống bán phá giá nói riêng. Thứ hai, pháp luật chống bán phá giá cần phải bảo đảm được tính ổn định, lâu dài. Thứ ba, bảo đảm được tính chuẩn mực của pháp luật bởi vì giá trị của pháp luật chính là tạo ra các chuẩn mực cho các chủ thể khác nhau trong đời sống xã hội. Nếu pháp luật không chứa đựng các chuẩn mực thì hiệu quả của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội sẽ không cao; Thứ tư, pháp luật phải bảo đảm tính nhất quán và hệ thống. Điều này được thể hiện ở chỗ các văn bản pháp luật trong cùng một lĩnh vực phải có sự thống nhất với nhau, tránh việc ban hành một lĩnh vực mà nhiều cấp ban hành khác nhau, chồng chéo lên nhau gây ra mâu thuẫn; các lĩnh vực khác nhau thì phải có tính hệ thống, không được đi ngược lại với Hiến pháp.

(2) Hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá phải xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Khi hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá phải là sự vận dụng về cơ bản toàn bộ các tiêu chí của nhà nước pháp quyền nói chung và những giá trị riêng của một nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (3 tiêu chí cơ bản: là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân; tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp; quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội) . Pháp luật trong nhà nước pháp quyền “bao gồm một tập hợp các quy định mà nếu thiếu chúng thì không thể có sự cùng tồn tại trong hoà bình và tự do”

(3) Hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá xuất phát từ yêu cầu bảo vệ ngành sản xuất trong nước, của người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội

Mục đích cuối cùng của pháp luật chống bán phá giá chính là bảo vệ thị trường nội địa chống lại các hành vi cạnh tranh quốc tế không lành mạnh, bù đắp lại những thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu do hành vi bán phá giá gây ra. Chính vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá phải đáp đứng được yêu cầu quan trọng nhất là bảo vệ ngành sản xuất trong nước, bảo vệ nền kinh tế nước nhà.

3.4  Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống phá giá

Trong xu thế toàn cầu khi hàng rào thuế quan của nhiều nước được dỡ bỏ, bên cạnh việc có nhiều cơ hội thị trường cho sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Việt Nam ở nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đồng thời cũng phải cạnh tranh để có thể giữ vững được thị trường nội địa và thị phần của mình. Chính vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá là nhu cầu thiết thực đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, nếu lạm dụng pháp luật chống bán phá giá để bảo hộ cho ngành sản xuất trong nước quá nhiều sẽ dẫn đến độc quyền, gây thiệt hại cho nền kinh tế và người tiêu dùng, tính cạnh tranh của ngành sản xuất này bị triệt tiêu và đặc biệt là hành động này sẽ vi phạm các cam kết, thỏa thuận quốc tế.

Sau đây là một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá:

Thứ nhất, quy định cụ thể về trường hợp cơ quan nhà nước tự khởi xướng điều tra bán phá giá mà không cần doanh nghiệp nộp đơn, bao gồm các quy định như: cơ quan nhà nước nào có quyền tự khởi xướng điều tra bán phá giá, các điều kiện để cơ quan đó có thể tự khởi xướng điều tra, thủ tục tự khởi xướng điều tra, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt việc tự khởi xướng điều tra,…

Thứ hai, quy định về chứng cứ trong điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá cần phải thể hiện rõ các nội dung: Xác định nguồn chứng cứ; Thủ tục giao nộp chứng cứ; Thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ; Thủ tục điều tra tại chỗ; Thủ tục trƣng cầu giám định và giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo; Thủ tục ủy thác thu thập chứng cứ…

Thứ ba, quy định trách nhiệm của người yêu cầu rà soát, chứng cứ người đề nghị ra soát đưa ra và các căn cứ để Bộ trưởng Bộ Công Thương có quyền quyết định rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá.

Thứ tư, cần có tổ chức giám sát hoặc tư vấn độc lập để tư vấn cho cơ quan chống bán phá giá trong một số trường hợp cần thiết.

Vì cơ cấu của cơ quan chống bán phá giá của Việt Nam được tổ chức theo mô hình giống của EU, nhiệm vụ của cơ quan này là vừa điều tra về bán phá giá và điều tra về thiệt hại, quyền hạn rất lớn trong quá trình điều tra, trong khi không có cơ quan nào giám sát hay tư vấn độc lập cho quá trình điều tra, có thể sẽ dẫn đến sự lạm dụng quyền lực.

Thứ năm, cần quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để lấy ý kiến của ngành sản xuất trong nước, người lao động để xác định sự ủng hộ, phản đối hay là trung lập đối với đơn kiện chống bán phá giá.

Trong pháp luật Việt Nam chỉ mới quy định đại diện của người lao động là bên liên quan trong vụ kiện, chưa quy định rõ là người lao động chỉ được tham gia vụ kiện với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ kiện hay là có quyền tự khởi kiện vụ án. Bản thân những người lao động là những người chịu thiệt hại không hề nhỏ từ ảnh hưởng của bán phá giá, không chỉ từ bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà còn trong trường hợp hàng hóa Việt Nam bị đánh thuế chống bán phá giá từ nước ngoài. Vì vậy họ có quyền lợi và nghĩa vụ như nào trong các vụ kiện bán phá giá phải được quy định cụ thể trong pháp luật.

Thứ sáu, các quy định về cung cấp thông tin và bảo mật thông tin trong điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá ở Việt Nam là chưa thể hiện rõ tầm quan trọng của những thông tin có giá trị thương mại của bên liên quan, quy định còn sơ sài, thiếu chi tiết.

Đối với các quy định liên quan đến chế độ bảo mật thông tin, cần hoàn thiện ở các nội dung sau: cần phải hoàn thiện bổ sung quy định về thông tin được bảo mật nên bao gồm: các thông tin liên quan đến bí mật thương mại, chế biến, sản xuất kinh doanh, sản lượng, bán hàng, vận chuyển, mua hàng,…còn các thông tin đến bí mật quốc gia không cần phải đưa vào quy định trong pháp luật chống bán phá giá, mà đã được điều chỉnh bởi văn bản pháp luật liên quan đến bí mật quốc gia.

Đề án “Thực trạng pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá và giải pháp hoàn thiện.” đã khái quát những nội dung chính về những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật chống bán phá giá, nêu lên được thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam. Từ đó đã đề ra được những phương hướng, yêu cầu hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá. Để hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này, một số giải pháp đã được đưa ra đối với hệ thống pháp luật như: quy định cụ thể về trường hợp cơ quan nhà nước tự khởi xướng điều tra bán phá giá mà không cần doanh nghiệp nộp đơn; quy định về chứng cứ trong điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá một cách chi tiết hơn; quy định trách nhiệm của người yêu cầu rà soát, chứng cứ người đề nghị ra soát đưa ra và các căn cứ để Bộ trưởng Bộ Công Thương có quyền quyết định rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá; cần có tổ chức giám sát hoặc tư vấn độc lập để tư vấn cho cơ quan chống bán phá giá trong một số trường hợp cần thiết; cần quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để lấy ý kiến của ngành sản xuất trong nước, người lao động; và quy định chi tiết hơn các quy định về cung cấp thông tin và bảo mật thông tin trong điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá

Tính đến thời điểm hiện tại pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam đã trải qua hơn 15 năm hình thành và phát triển, pháp luật ngày càng trở nên hoàn thiện hơn theo hướng cụ thể hơn, gần gũi hơn với thực tiễn kinh doanh của các doanh nghiệp và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau mà vấn đề chống bán phá giá ở Việt Nam còn vướng phải nhiều khó khăn từ việc điều tra đến việc áp dụng pháp luật chống bán phá giá.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

1. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994

2. Hiệp định thực thi điều VI của hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 (Hiệp định chống bán phá giá) (ADP)

3. Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng

4. Luật Quản lý ngoại thương năm 2017

5. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016

6. Nghị định 10/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương biện pháp phòng vệ thương mại

7. Thông tư số 06/2018/TT-BCT ngày 20 tháng 4 năm 2018 quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp phòng vệ thương mại

8. Quyết định Số: 3752/QĐ-BCT của Bộ Công Thương quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cục phòng vệ thương mại

9. Châu Thị Huyền (2019). Điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật

10. Kim Thị Hạnh (2012).  Hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá, Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 22 (230), tháng 11/2012

11. Nguyễn Hợp Toàn (2013) chủ biên. Giáo trình Pháp luật Kinh tế, NXB ĐHKTQD

12. Trần Văn Nam (2015) chủ biên. Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, NXB ĐHKTQD.

13. Tạ Lợi, Nguyễn Thị Hường (2018) chủ biên. Giáo trình Kinh doanh quốc tế, NXB ĐHKTQD.

14. Thanh Nguyễn (2019). “Mỗi tháng 1 vụ kiện, Việt Nam ngập trong “bão” phòng vệ thương mại”, Báo Hải quan

15. Vũ Thị Hằng (2014). So sánh pháp luật chống bán phá giá giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội

Tài liệu tiếng Anh

1. Bown, C., P. (2006), “The World Trade Organization and Anti-Dumping in Developing Countries”, World Bank Group


[2] Trần Văn Nam (2015) chủ biên. Giáo trình Luật thương mại quốc tế, NXB Trường đại học Kinh tế quốc dân, trang 164

[3] Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử (2010). Tổng quan về chống bán phá giá trên thị trường, trang 13

[5] Theo Hiệp định chống bán phá giá, Điều IV: 1, khái niệm “ngành sản xuất trong nước” được hiểu là dùng để chỉ tập hợp chung các nhà sản xuất trong nước sản xuất các sản phẩm tương tự hoặc để chỉ những nhà sản xuất có tổng sản phẩm chiếm phần lớn tổng sản xuất trong nước của các sản phẩm đó

[6] Các tác động tích cực và tiêu cực của việc sử dụng chính sách chống bán phá giá ở các nước đang phát triển (2016), chongbanphagia.vn

[7] Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử. Sự cần thiết phải sử dụng chính sách chống bán phá giá

[8] Giáo trình Luật thương mại quốc tế, NXB Đại học kinh tế quốc dân, 2015, tr 141

[9] TKT (2016). Việt Nam và WTO

[13] Khoản 1 Điều 77 Luật quản lý ngoại thương 2017

[14] Điều 1 Nghị định 10/2018/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại

[15] Điều 1 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

[16] Khoản 6 Điều 11 Luật giá 2012

[17]   Điều 24 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại

[18]   Điều 25 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại

[19] Khoản 4 Điều 38 Nghị định 10/2018/NĐ-CP nghị định quy định chi tiết một số điều của luật quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại

Các bài luận liên quan:

1900.0191