So sánh hệ thống tòa án Anh – Mỹ

So sánh hệ thống tòa án Anh – Mỹ theo các cơ chế pháp luật hiện nay và quá trình hình thành, phát triển.

I.Sự hình thành và phát triển của hệ thống tòa án Anh

1.Khái niệm tòa án

Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng tư pháp và xét xử của nhà nước

*Hệ thống tòa án

  • Là cơ quan xét xử
  • Cơ quan thi hành quyền tư pháp

2.Sự hình thành và phát triển của hệ thống tóa an Anh

2.1.Tòa án Anh thời Anglo –Saxon

Các tòa án được tổ chức dưới hình thức đơn giản nói trên tiến hành xét xử dựa vào tập quán địa phương,. Khi đó người Anh chưa biết đến những nguyên tắc phức tạp như trong tố tụng như nguyên tắc về chứng cứ cũng như kiểm tra chứng cứ. Việc xét xử được thực hiện thông qua những hình thức thử thách, theo đó bị cáo sẽ được kết luận vô tội hay có tội  sau khi bị cáo được thách thức bằng cách cầm thanh sắt nung đỏ hoặc ôm một tảng đá nóng lấy từ vạc nước sôi hoặc bằng cách áp dụng một vài hình thức thử thách khác. Nếu vết thương của bị cáo lành lại sau một thời gian nhất định; bị cáo sẽ được tuyênlà vô tội và đưọc phóng thích ; trường hợp ngược lại bị cáo sẽ bị hành quyết

Vào thế kỉ X, hoàng đế Alfed của vùng Wessex đã thành công trong việc thống nhất đất nước và trong viêc sáng lập ra vương quốc lớn. Các quận, các bách hộ khu đều có tòa án với thẩm quyền xét xử bị giới hạn trong phạm vi lãnh thổ địa phương

Tòa án cấp quận (Shire Court) được triệu tập tối thiểu hai lần trong một năm và cho quận trưởng chủ tọa phiên tòa. Thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp quận rộng nhưng tòa án này chỉ thụ lí vụ việc để xét xử khi tòa án “bách hộ khu” từ chối trao công lí cho bên nguyên. Phán quyết cua tòa án cấp quận có thể được kháng cáo lên Hoàng đế Anglo-Saxon trong trường hợp tòa án cấp quận từ chối trao công lí cho bên nguyên. Tòa án bách hộ khu thực chất là đại hội của những người dân tự do trong bách hộ khi, được triệu tập mỗi tháng một lần và do người đứng đầu bách hộ khu chủ tọa. Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự và hình sự, phán quyết của tòa án được tất cả người dân trong bách hộ khu chấp nhận .

2.2.Giai đoạn từ thế kỉ XI đến cuối hế kỉ XIV

Trong lĩnh vực hành pháp, William đệ nhất cho lập sổ điền thổ vào năm 1086, thống kê tất cả đất đai của Quốc vương → đảm bảo số thuế lớn hơn được tập trung vào ngân sách hoàng gia.

William đệ nhất còn cho thành lập Hội đồng cố vấn của Quốc vương (gồm vua và các cố vấn, trong đó vua đứng đầu) → kiểm soát việc nộp thuế của các thủ hạ nhà vua ð Lý do tài chính là lí do cơ bản tăng sự can thiệp của Chính phủ hoàng gia TW vào các quan hệ pháp luật dân sự, hình sự có liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế.

Tư pháp hoàng gia đã phát triển từ thế kỉ XII đến thế kỉ XIII, từ thẩm quyền đặc biệt giải quyết những vụ việc tài chính của quốc gia trở thành thẩm quyền chung. Hội đồng cố vấn Quốc vương trở thành 3 tòa án trung ương thường trực, bao gồm: (i) tòa án tài chính (court of exchequer), (ii) tòa án có thẩm quyền chung (court of common pleas), (iii) tòa án quốc vương (court of king’s bench).

Hệ thống tòa án phong kiến của các thủ lĩnh địa phương (baronial court) cũng được thành lập, thay thế tòa án bách hộ khu và tòa án quận. Tòa án giáo hội cũng hình thành.

2.3.Giai đoạn hình thành và phát triển common law

Vị hoàng đế có công lao lớn trong việc thúc đẩy sự ra đời của common law là Henry đệ nhị (1154-1189). Ông có công thể chế hóa common law bằng việc nâng các tập quán địa phương lên thành tập quán quốc gia, kết thúc sự kiểm soát của luật bất thành văn ở từng địa phương, khôi phục hệ thống bồi thẩm.

Henry đệ nhị đã cử các thẩm phán từ tòa án hoàng gia đi giải quyết tranh chấp địa phương trên toàn nước Anh. Ban đầu, họ giải quyết tranh chấp theo cách họ hiểu sao về tập quán địa phương. Sau mỗi vụ xét xử, các thẩm phán trở về Westminster và thảo luận về những vụ án họ đã xét xử, tập quán họ đã áp dụng và phán quyết mà họ đã ra. Các phán quyết được gọt giũa lại và ghi chép có hệ thống → nguyên tắc “rule of precedent”, nghĩa là các thẩm phán bị ràng buộc bởi những phán quyết của các thẩm phán khác có liên quan trong quá khứ. Nói cách khác nếu hai vụ việc có tình tiết tương tự nhau thì phải có phán quyết như nhau ð Các phán quyết ngày càng trở nên khô cứng và các tập quán địa phương thời Norman dần bị thay thế bởi tiền lệ pháp.

Henry đệ nhị đã sáng tạo ra hệ thống tòa án đầy quyền lực và thống nhất tới mức đã hạn chế được cả thẩm quyền của tòa án giáo hội và đặt mình trong thế xung đột với tòa án nhà thờ.

2.4.Giai đoạn từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX

Trong quá trình phát triển, đặc biệt trong quan hệ với hệ thống trát, common law đã dần trở nên phức tạp, cứng nhắc dẫn đến những bất công trong xét xử. Thủ tục tố tụng được xem trọng hơn cả quyền lợi đang được tranh chấp trong vụ kiện → Nảy sinh nhu cầu tìm kiếm giải pháp mới để khắc phục bất công, đó là equity.

Equity được hiểu là hệ thống các học thuyết và thủ tục pháp lí phát triển song song với common law và luật thành văn, được sử dụng trong hoạt động xét xẻ tại Văn phòng đại pháp (sau này là Tòa Đại pháp) nhằm khắc phục những bất công của common law. Sự hình thành của equity là nhằm sửa đổi, bổ sung cho common law chứ không phải để thay thế common law.

Trong suốt thế kỉ XV, Đại pháp quan quyết định những vụ việc theo những gì ông ta cho là thích hợp. Các phán quyết này sau đó được các các viên Đại pháp quan kế nhiệm phát triển thêm, tùy thuộc vào nhận thức về công bằng và lẽ phải.

Bài luận về chủ đề “So sánh hệ thống tòa án Anh Mỹ”

Từ cuối thế kỉ XVI, Đại pháp quan bị ràng buộc bởi tiền lệ pháp, giống như các thẩm phán  của Tòa án Hoàng gia → ngày càng mang tính tư pháp

Trong thế kỉ XVII, các quy phạm pháp luật được áp dụng ở Tòa đại pháp cũng đã bị cố định bởi các phán quyết của Tòa đại pháp trong quá khứ và được định hình thành những quy phạm theo đúng nghĩa pháp luật, giống kiểu quy phạm của common law.

2.5.Giai đoạn cuối thế kỉ XIV

Bước sang thế kỉ XIX, Anh quốc rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng cả về phương diện chính trị và xã hội. Trong lĩnh vực pháp luật, cả common law và quity đều bộ lộ những khiếm khuyết của mình:

  • Thủ tục tố tụng được sử dụng tại các Tòa án Hoàng gia bấy giờ đã trở nên hết sức phức tạp, do sự tồn tại của những quy tắc tố tụng đặc biệt áp dụng riêng cho mỗi loại Tòa án và thậm chí trong mỗi hình thức khởi kiện ở từng tòa án.
  • Equity lúc này cũng trở nên dễ thay đổi và thiếu ổn định. Nhiều phán quyết của Tòa đại pháp mâu thuẫn làm cho các luật sư khó có thể dự đoán trước để tư vấn cho thân chủ. Thủ tục tố tụng tại Tòa đại pháp cũng trở nên lỗi thời do tiếp tục sử dụng kiểu tố tụng thời trung cổ.
  • Tòa án Hoàng gia và Tòa Đại pháp lại chịu trách nhiệm cưỡng chế thi hành những mảng riêng biệt → Nạn nhân một vụ việc nếu vừa muốn có lệnh buộc bên bị thực hiện hoặc không thực hiện một hành động nào đó và vừa muốn được bồi thường thiệt hại phải đệ đơn cả 2 tòa.

→ Dẫn đến nhu cầu cải tổ hệ thống pháp luật Anh

Việc cải tổ hệ thống pháp luật Anh vào cuối thế kỉ XIX bao gồm những nội dung sau:

  • Cải tổ hệ thống tòa án thông qua việc ban hành một số đạo luật, trong đó 2 đạo luật quan trọng nhất là Luật Tòa án tối cao năm 1873 và Luật thẩm quyền xét xử phúc thẩm năm 1876.
  • Đạo luật 1873 còn đơn giản hóa thủ tục tố tụng bằng việc bãi bỏ hình thức khởi kiện gắn liền với hệ thống trát cồng kềnh (khoảng 80 loại trát để lựa chọn tính tới thời điểm cải tổ). Theo đó, tất cả vụ việc đưa ra xét xử tại Tòa án cấp cao đều bắt đầu bằng một loại trát gọi là trát triệu tập. Bên nguyên không phải mô tả vụ việc bằng ngôn ngữ chuyên môn như trước.
  • Hợp nhất common law và equity bằng việc tất cả các tòa chuyên trách trong tòa án tối cao và tòa án phúc thẩm đều phải áp dụng các quy phạm và nguyên tắc pháp lí của Anh quốc.
  • Luật nội dung cũng được pháp điển hóa trong thế kỉ XIX nhiều hơn, chẳng hạn như nhiều đạo luật điều chỉnh lĩnh vực thương mại đã được ban hành.

II.Tính mới hệ thống tòa án Anh – Mỹ

Nhìn một cách khái quát nhất, ta có thể dễ dàng nhận thấy sự khác biệt cơ bản giữa hệ thống Toà án Anh và Mỹ, bởi ở Mỹ tồn tại song song hệ thống toà án Liên bang và hệ thống Toà án bang, còn ở Anh chỉ có một hệ thống Toà án tồn tại, thụ lý các vụ việc pháp lý phát sinh trên lãnh thổ thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Hệ thống toà án Anh theo cấu trúc gồm có Thượng nghị viện, Toà phúc thẩm, Toà án cấp cao, Toà địa phương. Thực tế hiện nay cho thấy, Thượng nghị viện tự giới hạn mình ở chỗ, nó chỉ ra quyết định giứ nguyên hoặc huỷ bỏ bản án đã có hiệu lực trước đó của toà án cấp dưới, mà ít khi tự mình đưa ra một bản quyết định độc lập. Điều này khác với cách thức làm việc của hệ thống toà án ở Mỹ. Như đã nói, ở Mỹ tồn tại hệ thống tư pháp liên bang gồm có Toà án tối cao, Toà án phúc thẩm và Toà án Hạt; hệ thống tư pháp bang gồm có Toà chung thẩm, Toà phúc thẩm và Toà sơ thẩm. Phán quyết của Toà án cấp dưới có thể bị huỷ bỏ bởi toà án cấp trên, phán quyết của toà án cấp cao nhất có giá trị quyết định cuối cùng.

1.Tại Anh:

1.1.Cấp toà án cơ sở

Cấp thấp nhất trong hệ thống toà án là Toà địa phương, với thẩm quyền xét xử giới hạn trong lĩnh vực dân sự, và thẩm quyền của toà án bao trùm một khu vực hành chính nhất định

1.2.Cấp toà án phúc thẩm

Toà phúc thẩm là một bộ phận của Toà án tối cao với hai toà chuyên trách (Toà Dân sự và Toà Hình sự), có nhiệm vụ tiếp nhận và giải quyết những kháng cáo, kháng nghị từ những vụ án đã được xét xử ở Toà cấp cao, Toà địa phương.

1.3.Toà án tối cao

Toà tối cao ở Anh là sự hợp nhất của Toà phúc thẩm, Toà cấp cao và Toà hình sự trung ương. Trước đây, khác với ở Mỹ, toà án tối cao ở Anh không phải là cấp cao nhất trong hệ thống tư pháp. Tuy nhiên khi những điều khoản trong Luật cải tổ Hiến Pháp có hiệu lực vào tháng 10 năm 2009 thì Toà án tối cao sẽ được cơ cấu lại, và phạm vi thẩm quyền của nó sẽ mang đúng nghĩa là cấp xét xử cao nhất, các phán quyết sẽ mang tính chất quyết định cuối cùng trong hệ thống pháp luật Anh.

2.Tại Mỹ:

2.1.Cấp toà án cơ sở

Ở hệ thống tư pháp bang, cũng giống như ở Anh, Toà sơ thẩm (chia thành toà sơ thẩm với thẩm quyền hạn chế và Toà sơ thẩm với thẩm quyền chung). Thường, Toà sơ thẩm với thẩm quyền hạn chế giới hạn xét xử những vụ việc ít nghiêm trọng, hình phạt tiền không quá 1000USD và hình phạt tù không quá 1 năm. Toà sơ thẩm với thẩm quyền chung hoạt động như cấp phúc thẩm, phúc thẩm lại các vụ việc từ cấp dưới. Toà sơ thẩm cũng hoạt động theo đơn vị hành chính.

2.2.Cấp toà án phúc thẩm

Ở Mỹ, Toà phúc thẩm tồn tại ở cả hệ thống tư pháp liên bang và hệ thống tư pháp bang. Trước hết, ở hệ thống tư pháp liên bang, Toà phúc thẩm có chức năng xem xét lại các vụ việc, thường là bắt đầu từ các Toà án Hạt; bên cạnh đó các toà cũng có quyền xem xét lại quyết định của một số cơ quan hành chính. Việc xem xét lại vụ án nhằm giám sát tính hợp pháp trong hoạt động xét xử của toà án cấp dưới; tìm ra những lỗi vi phạm trong quá trình tố tụng; đồng thời thực hiện mục đích phân loại các vụ việc cần có sự can thiệp của Toà án tối cao. Còn ở hệ thống tư pháp bang, Toà án Phúc thẩm trung gian có nhiệm vụ giảm bớt khối lượng công việc của Toà chung thẩm của bang. Toà án Phúc thẩm bang chịu trách nhiệm trên phạm vi toàn bang.

Như vây cả về mặt lí luận và thực tiễn, có thể nhận thấy cơ cấu tổ chức và hoạt động của cấp phúc thẩm tại Mỹ đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống tư pháp, đem lại hiệu quả cao cho công tác xét xử của ngành toà án, bởi khối lượng và chất lượng công việc mà Toà phúc thẩm thực hiện thực sự rất đồ sộ, vừa bao quát hoạt động của toà án cấp dưới, vừa trợ giúp cho Toà án tối cao trong công tác hệ thống hoá các vụ việc quan trọng.

2.3.Toà án tối cao

Ở Mỹ, Toà án tối cao liên bang là cấp xét xử cao nhất, và thực sự có quyền lực tối cao trong hệ thống tư pháp liên bang. Cấp toà án này ngoài tư cách là cơ quan xét xử cuối cùng, còn được biết đến với tư cách là nhà lập sách (lập các chính sách), và xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật, các hành vi của chính phủ.

Như vậy tính tối cao của Toà án tối cao ở Anh nghiêng về hình thức nhiều hơn. Khi cơ cấu của Toà án được tổ chức lại, có thể phạm vi quyền lực và thẩm quyền xét xử của Toà tối cao của Anh sẽ tương đương với Toà án tối cao liên bang của Mỹ. Khối lượng công việc của Toà án tối cao tại Mỹ có thể không nhiều bằng tại Anh, bởi trước khi vụ việc được đưa lên cấp tối cao, phải qua nhiều cấp phúc thẩm tại từng bang riêng biệt, phúc thẩm tại cấp liên bang, rồi mới tới cấp tối cao. Chính sự phân chia này làm tăng hiệu quả trong hoạt động xét xử của ngành tư pháp Hoa Kì.

Bài luận về chủ đề So sánh hệ thống tòa án Anh Mỹ.

Tìm hiểu thêm các bài tiểu luận liên quan:

1900.0191