Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân

“Hồ Chí Minh, con người sinh ra ở thế kỷ XIX, làm nên kì tích ở thế kỷ XX, và là mẫu người của thế kỷ XXI”. Khát vọng cháy bỏng trong cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là giành độc lập cho dân tộc, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Khát vọng và lý tưởng ấy đã thôi thúc, quán xuyến mọi suy nghĩ, hành động trong suốt cuộc đời cách mạng của Người. Một trong những tư tưởng của Hồ Chí Minh đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Một nhà nước mà đến giờ, chúng ta vẫn đang  từng bước, từng bước hoàn thiện.Để hiểu hơn về quy chế dân chủ của nước ta và nhận thức được tầm quan trọng trong tư tưởng của Người về một nhà nước mới nên em lực chọn đề tài: “phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân”

I. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước:

Việt Nam là một quốc gia hình thành nhà nước từ rất sớm. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, ông cha ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu về dựng nước và giữ nước. Những yếu tố tích cực của nhà nước thân dân thời kì phong kiến hưng thịnh trong lịch sử dân tộc có giá trị trường tồn. Đó là những hành trang đầu tiên Người mang theo bên mình để cứu nước và dựng nước.

Cuối thế kỉ XIX, Việt Nam và nhiều dân tộc trên thế giới trở thành thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Hồ Chí Minh đã khởi xướng phong trào đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc mình và các dân tộc thuộc địa bằng cách vạch trần bản chất vô nhân đạo của cái gọi là “công lý” mà thực dân thi hành ở các xứ “bảo hộ”. Bản chất ấy là hình thức nhà nước xấu xa cần lật đổ. Từ đó, Người đã tìm hiểu về các mô hình nhà nước trên thế giới để lựa chọn cho Việt Nam một kiểu nhà nước mới.

Người đã khảo sát mô hình nhà nước tư sản ở Mỹ, Pháp, Anh; nghiên cứu Cách mạng thàng Mười và mô hình nhà nước Xô – viết công nông ở Nga. Bằng những khảo sát thực tiễn, với tư duy chính trị nhạy cảm, sắc sảo Hồ Chí Minh đã quyết định lựa chọn con đường Cách mạng tháng Mười, kiểu nhà nước theo học Mác- Lê-nin, theo mô hình Nhà nước Nga Xô-viết. Việc lựa chọn kiểu nhà nước gắn bó chặt chẽ với mục tiêu giải phóng con người và phát triển xã hội.

Người sáng tạo trong việc vận dụng kinh nghiệm Xô-viết để kiến tạo xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Người chủ trương “Dựng ra chính phủ công nông  binh”. Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, chủ trì Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành trung ương (5 – 1941) hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược cách mạng. Từ mô hình nhà nước công, nông, binh chuyển sang mô hình nhà nước đại biểu cho khối đoàn kết của toàn thể quốc dân là một bước chuyển sáng suốt của Hồ Chí Minh, phản ánh được nét đặc thù của thực tiễn dân tộc.

II. Tư tưởng Hồ CHí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân:

1.Quan điểm về xây dựng nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân:

Hồ Chí Minh không phải là người đầu tiên nêu lên khái niệm: “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”. Người đã tiếp thu khái niệm này từ Tổng thông Mỹ A. Lincôn (cuối thế kỷ XIX). Song công lao của Người là biến khái niệm này từ sự hô hào thuần túy trên lời nói thành hiện thực trong cách mạng Việt Nam.

Để nhận thức được quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước kiểu mới này cần phải giải đáp được câu hỏi: thế nào là nhà nước của dân? Thế nào là nào là Nhà nước do dân? Thế nào là Nhà nước vì dân?

Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân là Nhà nước được nhân dân ủy quyền cho các đại diện do mình bầu ra và thông qua các đại diện của mình thực hiện quyền bãi miễn những đại diện nào tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm nữa. Trong Nhà nước của dân thì dân làm chủ, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền làm những việc pháp luật không cấm và có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời là người chủ cũng phải thể hiện năng lực, trách nhiệm làm chủ của mình. Nhà nước phải bằng mọi nỗ lực, hình thành thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Những vị đại diện do dân cử ra chỉ là thừa uỷ quyền của dân, là “công bộc” của dân; phải làm đúng chức trách và vị thế của mình, không phải đứng trên nhân dân, coi khinh nhân dân, “cậy thế” với dân, “quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân”.

Nhà nước do dân là Nhà nước bao gồm những người do dân lựa chọn, bầu ra để đại diện cho quyền lợi của mình. Do vậy, Nhà nước đó luôn  được nhân dân ủng hộ, giúp đỡ và đóng góp, chủ yếu là đóng thuế, để Nhà nước có điều kiện thực hiện những hoạt động của mình; Nhà nước đó cũng do Nhân dân phê bình, xây dựng và kiểm soát làm cho các thành viên của Nhà nước luôn ý thức rõ trách nhiệm đại diện của mình trước nhân dân. Muốn cho Nhà nước trở nên trong sạch, vững mạnh và hoạt động có hiệu quả, Người đã chỉ rõ tất cả các cơ quan nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. “Nếu chính phủ làm hại nhân dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”. Điều đó có nghĩa là khi Nhà nước và các cơ quan của nó xa dân, quan liêu, cửa quyền, không đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì nhân dân sẽ bãi miễn nó đi.

Nhà nước vì dân là nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức, xây dựng và kiểm soát trên thực tế. nhà nước v dân luôn phục vụ cho lợi ích và nguyện vọng của dân, không có đặc quyền, đặc lợi thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính chí công vô tư. Trong nhà nước vì dân cán bộ luôn là “công bộc” của dân, với ý nghĩa vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ của dân, nên việc gì có lợi cho dân thì dù là việc nhỏ đi chăng nữa cũng phải làm hết trách nhiệm. và, cán bộ phải biết đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân. Quan điểm về nhà nước vì dân của người đã vượt lên trên những chủ trương thân dân của các nhà nước thống trị khi còn đang ở giai đoạn tiến bộ nhất của nó. Thuật ngữ “công bộc “ có nghĩa là người đảm trách c ông việc chung của xã hội phục vụ nhân dân và là sự thống nhất của hai nhân tố: đấy tớ và lãnh đạo. theo Hồ Chí Minh, dân làm chủ thì cán bộ làm “công bộc” cho dân, chứ không phải làm quan cách mạng.

2.Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của Nhà nước:

2.1. Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước:

Nhà nước là một phạm trù lịch sử, nó chỉ ra đời và tồn tại khi giai cấp và đấu tranh giai cấp xuất hiện, do đó, nhà nước là sản phẩm của một xã hội có giai cấp, nó bao giờ cũng mang bản chất một giai cấp nhất định, không có một nhà nước nào là phi giai cấp, không có nhà nước đứng trên giai cấp. Như vậy không phải lịch sử nhân loại xuất hiện là có nhà nước ngay và nhà nước không phải tồn tại mãi mãi. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước ta được coi là Nhà nước của dân, do dân, vì dân nhưng bản chất giai cấp của Nhà nước ta là bản chất giai cấp công nhân. Vì:

Một là, Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Điều này được thể hiện:

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân. Việc xác định bản chất giai cấp công nhân của nhà nước là một vấn đề rất cơ bản của Hiến pháp. Lời nói đầu của bản Hiến pháp năm 1959 khẳng định: Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo. Trong quan điểm cơ bản xây dựng một Nhà nước do nhân dân lao động làm chủ, một nhà nước thể hiện tính chất nhân dân rộng rãi, Hồ Chí Minh vẫn nhấn mạnh nòng cốt của nhân dân là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và trí thức do giai cấp công nhân mà đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

 Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng phương thức thích hợp. Nói đến phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là nói đến cách lãnh đạo cho phù hợp với từng thời kỳ. Trong thời kỳ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước, đất nước ta phải vừa iến hành kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, vừa lãnh đạo nhân dân xây dựng chế độ mới. Do đó, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ta thời kỳ đó không giống với những thời kỳ sau này. Song, trong tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn có những vấn đề cơ bản về phương thức lãnh đạo của Đảng chung cho các thời kỳ. Đó là: Đảng lãnh đạo bằng đường lối, quan điểm, chủ trương để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, chính sách, kế hoạch; Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên của mình trong bộ máy, cơ quan nhà nước; Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác kiểm tra.

Hai là, bản chất giai cấp của Nhà nước ta thể hiện ở tính định hướng xã hội chủnghĩa của sự phát triển của đất nước bằng cách cải tạo nền kinh tế cũ và phát triển nền kinh tế mới xã hội chủ nghĩa có công nông nghiệp hiện đại, khoa học kĩ thuật tiên tiến. Điều này đã được thể hiện ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời ngày 2-9-1945 trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.

Ba là, bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta thể hiện ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh rất chú ý đến tính dân chủ trong tổ chức và hoạt động của tất cả bộ máy, cơ quan nhà nước, nhấn mạnh đến việc phát huy cao độ dân chủ, đồng thời phát huy cao độ tập trung. Nhà nước phải tập trung thống nhất quyền lực để tất cả mọi quyền lực vào tay nhân dân.

Bốn là, dân chủ cũng cần phải có chuyên chính, chế độ nào cũng có chuyên chính, vấn đề là ai chuyên chính với ai. Nhà nước dân chủ nhân dân sử dụng công cụ chuyên chính của nhân dân nhằm trấn áp những kẻ áp bức, bóc lột để bảo vệ lợi ích của nhân dân.

2.2.Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân, tính dân tộc của Nhà nước:

Hồ Chí Minh là người giải quyết rất thành công mối quan hệ giữa các vấn đề giai cấp – dân tộc trong xây dựng Nhà nước Việt Nam mới. Hồ Chí Minh đã giải quyết hài hòa, thống nhất giữa bản chất giai cấp với tính nhân dân, tính dân tộc và được biểu hiện rõ trong những quan điểm sau:

– Nhà nước ta ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của rất nhiều thế hệ người Việt Nam từ quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dân tộc Việt Nam rơi vào khủng hoảng đường lối cách mạng. Trong cuộc đấu tranh trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc ta, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của các nhà cách mạng tiền bối rất oanh liệt tô thắm cho truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc nhưng độc lập, tự do cho dân tộc vẫn chưa trở thành hiện thực.

– Tính thống nhất của nó còn biểu hiện ở chỗ Nhà nước ta bảo vệ lợi ích của nhân dân, lấy lợi ích của dân tộc làm cơ bản. Bản chất của vấn đề này là ở chỗ, Hồ Chí Minh khẳng định lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn dân tộc là một. Nhà nước ta không những thể hiện ý chí của giai cấp công nhân mà còn thể hiện ý chí của nhân dân và của toàn dân tộc.

– Trong thực tế, Nhà nước ta đã đứng ra làm nhiệm vụ của cả dân tộc giao phó, đã lãnh đạo nhân dân tiến hành các cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần tích cực vào sự phát triển tiến bộ của thế giới. Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội rồi đi tới chủ nghĩa cộng sản là con đường mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định cũng là sự nghiệp của chính Nhà nước ta.

3.Xây dựng nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ:

Theo Hồ Chí Minh, nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, trước hết phải là một nhà nước hợp hiến. Hợp hiến, theo nghĩa rộng, là được nhân dân thừa nhận và ủng hộ, giúp đỡ; theo nghĩa hẹp, là được ghi nhận bằng Hiến pháp.

Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ phải là một nhà nước quản lý, điều hành đất nước bằng pháp luật, chứ không phải bằng mệnh lệnh hành chính, độc đoán chuyên quyền. Điều đó chứng tỏ Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò quan trọng cuả pháp luật đối với việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật là đòi hỏi tất yếu khách quan của một  xã hội dân chủ, trong đó mọi chủ thể đều phải tuân theo pháp luật, không có một ngoại lệ nào. Tư tưởng đề cao vai trò của pháp luật trong xã hội xuất hiện khá sớm, trong “Yêu sách tám điểm”, Người đói thực dân Pháp phải cải cách nền pháp lý ở Đông Dương, “Bãi bỏ chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”…

Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ phải là một nước luôn quan tâm đến việc đưa pháp luật vào đời sống và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trên thực tế, dân chủ và pháp luật phải luôn đi đôi với nhau. Theo Người, có pháp luật là điều kiện cần, còn việc đưa pháp luật vào đời sống làm cho pháp luật có hiệu lực trên thực tế mới là điều kiện đủ. Muốn pháp luật đi vào đời sống thì không chỉ quan tâm, chăm lo hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật trên giấy, mà quan trọng hơn: trước hết là phải tạo ra cơ chế bảo đảm cho pháp luật được thi hành và cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành đó trong các cơ quan nhà nước; trong nhân dân; thứ hai là phải coi trọng việc nâng cao dân chí, ý thức làm chủ, phát triển văn hóa chính trị và tính tích cực của công dân, khuyến khích nhân dân tham gia vào việc của nhà nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.

4.Quan điểm về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả:

4.1. Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước:

Xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân không bao giờ tách rời với việc làm cho Nhà nước luôn luôn trong sạch, vững mạnh. Khi nước nhà vừa giành được độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ cũng như lúc cách mạng chuyển giai đoạn, Hồ Chí Minh càng chú ý hơn bao giờ hết đến việc bảo đảm cho sự trong sạch, vững mạnh của các cấp chính quyền, bởi vì thường những lúc đó cách mạng đứng trước những thử thách rất gay gắt. Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cần phải kiên quyết chỉ rõ cần phải chống ba thứ “giặc nội xâm” là tham ô, lãng phí, quan lieu, nếu không sẽ dẫn tới hậu quả khó lường. Theo Người những tội lỗi ấy cũng giống như Việt gian, mật thám và việc đấu tranh chống những tội lỗi ấy cũng cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận.

4.2. Tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng:

Hồ Chí Minh đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa quản lý xã hội bằng pháp luật với phát huy những truyền thống tốt đẹp trong đời sống cộng đồng người Việt Nam được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử. Trong việc thực thi quyền hạn và trách nhiệm của mình với cương vị là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh bao giờ cũng thể hiện là một người sáng suốt, thống nhất hài hòa giữa lý trí và tình cảm, nghiêm khắc, bao dung, nhân ái nhưng không bao che cho những sai lầm, khuyết điểm của bất cứ ai. Kỷ cương, phép nước thời nào cũng cần và đều phải được áp dụng cho bất cứ ai. Do đó, Hồ Chí Minh yêu cầu pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh dùng sức mạnh uy tín của mình để cảm hóa những người có lỗi lầm, kéo họ đi với cách mạng, giáo dục những người mắc khuyết điểm để họ tránh phạm pháp.

Trong điều kiện cạnh tranh quốc tế quyết liệt hiện nay,ta không có con đường nào khác là phải “phát huy cao độ nội lực của dân tộc”, mà một trong những nhân tố cơ bản làm nên nội lực đó là phát huy dân chủ. Chính khát vọng dân chủ đã tạo nên sức mạnh kiên cường đấu tranh cho độc lập tự do.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất có quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”. Vì vậy, Người nhắc nhở: “Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai. Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn”. Mọi chủ trương, đường lối, thuộc tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… đều được Người xem xét và giải quyết từ địa vị người làm chủ và quyền làm chủ của nhân dân.Phát huy dân chủ phải kết hợp chặt chẽ với tăng cường pháp chế, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật. Đồng thời, phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật, đảm bảo cho mỗi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật, đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được xét xử nghiêm minh, đúng người đúng tội, không phân biệt người đó là ai, để đem lại niềm tin cho nhân dân và tính nghiêm minh của nhà nước ta.

Cần phải làm cho đội ngũ cán bộ, viên chức quán triệt nhận thức: Nhà nước là một tổ chức công quyền thể hiện quyền lực của nhân dân, nhân viên nhà nước là công bộc của nhân dân. Cải cách thủ tục hành chính, ban hành và hoàn thiện chế độ công cụ;Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức theo đúng chức danh, tiêu chuẩn thực hiện tinh giảm biên chế, xử lý nghiêm minh kịp thời những người vi phạm pháp luật.

Đảng ta là đảng cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Cuộc đấu tranh để khắc phục những khuyết tật của bộ máy nhà nước không thể tách rời cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để chỉnh đốn lại bộ máy nhà nước, khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, Đảng phải tự chỉnh đốn, phải nêu gương về mặt trong sạch, vững mạnh. Đó là nhân tố cơ bản và then chốt. Chỉ có sự lãnh đạo của một Đảng trong sạch, vững mạnh mới đưa cải cách bộ máy nhà nước đi đến thành công.

Một nhà nước của dân, do dân và vì dân là điều tất cả người dân đều mong muốn. Qua đó, cho thấy tư tưởng của Người luôn  hướng tới những điều tốt đẹp nhất cho con dân của mình. Nhận thức được tư tưởng của Người là một điều tất yếu để đưa dất nước phát triển lên một tầm cao mới, xứng đáng với sự kì vọng của Hồ Chí Minh.

Tham khảo thêm:

1900.0191